Phiên Ngoại 1: Ý Thu
Bên ngoài mưa phùn rơi liên tục, hiện đã là cuối thu. Màn xe bị nước mưa làm ướt đẫm, tiếng bánh xe lăn *lộp cộp* hòa lẫn tiếng hạt mưa rơi *tí tách* lên thành xe. Từ xa nhìn lại, cung điện nguy nga trước mắt tựa như một bức tranh thủy mặc.
Màn xe được vén lên, một bàn tay thon dài đưa ra, các ngón tay trắng nõn như ngọc, đầu móng tay màu hồng nhạt, cổ tay có đeo một chiếc vòng ngọc tím, càng tôn thêm nước da mịn màng.
"Vương phi." Một lão cung nhân quỳ bên đường, nhỏ giọng nói với người trong xe: "Tôn thái y đang thăm mạch ở bên trong."
Màn xe được kéo ra, một người phụ nữ mặc cung trang màu lam nhạt chậm rãi xuống xe, mi mục thanh tú, thần sắc thản nhiên.
Phía sau xuất hiện hai nha hoàn tiến lên bung dù che cho nàng. Một cung nhân khoảng ba mươi tay dắt một đứa trẻ khoảng sáu bảy tuổi tiến đến, cậu bé này tuy còn nhỏ nhưng lại hết sức tuấn tú, cậu bé nhìn thấy người phụ nữ liền nhoẻn miệng cười, nói: "Mẫu phi, ta tan học rồi."
Ngọc Thụ mỉm cười, đưa tay nhẹ vuốt phần tóc mái trên trán cậu bé, "Cùng mẫu phi đi gặp hoàng hậu nương nương nào."
Cậu bé hơi cau mày như có hơi không nguyện ý, phụng phịu hỏi: "Vĩnh Nhi có thể ở đây chờ mẫu phi không?"
"Không được." Ngọc Thụ nghiêm nghị lắc đầu, "Vĩnh Nhi là một đứa trẻ hiểu chuyện mà, hoàng hậu không khỏe nên chúng ta phải đến thăm hỏi."
Cậu bé im lặng nghĩ ngợi một chốc, cuối cùng bất đắc dĩ gật đầu, "Vâng ạ." Có điều vẻ mặt vẫn lộ ra mấy phần không muốn.
Bốn năm trước, Trưởng công chúa dùng giang sơn làm hồi môn, tám mươi vạn đại quân chờ đợi ở quan ngoại tranh thủ thời cơ, giành được một thân phận chư hầu cho Hoài Tống sau nhiều năm nội loạn. Sau đó, nàng rời khỏi quê hương ấm ấp, đi thuyền dọc sông Xích Thủy tiến lên phương bắc, cuối cùng đặt chân vào thành Chân Hoàng. Toàn bộ hoàng thân quốc thích đều theo công chúa rời khỏi cố thổ, an cư tại thành trì này.
Đại Hạ diệt vong đã mấy năm, hiện tại đất nước gồm mười tám châu quận thuộc hạ du sông Hồng Xuyên đã đổi tên thành 'Yến'. Tân hoàng đế dựa trên cơ sở hạ tầng vốn có, mở rộng cung Thịnh Kim về phía đông nam xây dựng cung điện dành riêng cho Trưởng công chúa của Hoài Tống, đặt tên là điện Đông Nam, cũng đồng ý cho hoàng hậu tham chính, giải quyết các chính vụ liên quan đến Hoài Tống. Quan viên Hoài Tống tam phẩm trở xuống thì không được can dự chuyện triều chính. Bên ngoài đều coi điện Đông Nam là triều đình Hoài Tống thu nhỏ.
Chỉ có điều, hai năm gần đây, thân thể của Trưởng công chúa càng ngày càng sa sút, điện Đông Nam cũng vì vậy mà thêm lạnh lẽo.
Cha của Ngọc Thụ từng là trọng thần của Hoài Tống, ban đầu vốn là thần tử trụ cột ở điện Đông Nam, nhưng mấy năm gần đây, cựu thần Hoài Tống ngày xưa đều dần nghiêng về phía triều đình. Chính sách sát nhập phóng khoáng của tân hoàng đã từ từ tiêu trừ hết sự đề phòng của những thần tử dị quốc này. Điện Đông Nam hiện giờ đã yên tĩnh đến mức có thể nghe được tiếng ve đầu thu kêu văng vẳng.
"Huyền vương phi đến đấy à?" Vân cô cô năm nay đã hơn sáu mươi, tóc bạc gần hết, da đầy đồi mồi. Bà vui vẻ đi đến, cúi xuống nựng Vĩnh vương, cười nói: "Vĩnh vương điện hạ càng lúc càng tuấn tú, lớn lên nhất định cũng là một mỹ nam như Huyền vương gia cho mà xem."
Vân cô cô đi theo hoàng hậu nhiều năm nên có địa vị rất cao trong cung, ngay cả Ngọc Thụ cũng luôn kính trọng bà, nàng cười nói: "Vân cô cô gần đây có khỏe không?"
"Khỏe, khỏe, cảm ơn vương phi hỏi thăm."
"Hoàng hậu bệnh thế nào rồi?"
"Haiz, vẫn là bệnh cũ." Vân cô cô thở dài, người lớn tuổi thường hay ca thán, nên lại bắt đầu kể lể với Ngọc Thụ: "Đã ăn rất ít lại không chịu uống thuốc. Bằng tuổi này rồi mà tính tình vẫn hệt như trẻ con."
"Cả Vĩnh Nhi còn không sợ uống thuốc!" Vĩnh vương ở một bên nghe vậy thì đột nhiên lên tiếng.
Vân cô cô vui vẻ vuốt đầu Vĩnh vương, cười nói: "Vĩnh vương điện hạ quả đúng là một nam tử hán, lát nữa vào trong nhớ khuyên nhủ hoàng hậu nương nương nhé?"
"Hoàng hậu nương nương đã tỉnh, vừa hỏi là ai đến ạ." Một cung nô đi ra thông báo.
Ngọc Thụ nghe nói liền vội vã gật đầu với Vân cô cô, nhanh chóng dẫn Vĩnh vương vào cung Chiêu Dương.
Cung Chiêu Dương vẫn tráng lệ như cũ, nhưng Ngọc Thụ luôn cảm thấy nơi này quá mức trống trải, đến mức đi trên sàn có thể nghe được tiếng vang.
Hoàng hậu thích yên tĩnh nên bên cạnh có rất ít người. Tẩm cung rộng lớn nhường này mà cũng chỉ có vài cung nhân hầu hạ.
Hai cung nô nhị đẳng vén rèm châu mở đường cho Ngọc Thụ, hạt châu va vào nhau phát ra âm thanh trong trẻo. Ngọc Thụ dẫn Vĩnh vương tiến vào, quỳ xuống ở phòng sưởi bên ngoài, nhẹ nhàng nói: "Thần thiếp tham kiến hoàng hậu nương nương."
Hồi lâu sau mới có một giọng nói điềm tĩnh vang lên, nghe kỹ thì dường như có hơi nặng nề, "Là Ngọc Thụ đó à, vào đi."
Bên trong điện hơi lạnh, bình phong bằng đá cẩm thạch điêu khắc tranh sơn thủy khiến tẩm điện vốn trống trải thêm phần tĩnh mịch. Hoàng hậu mặc loan phục màu vàng sáng, nằm nghiêng người trên giường, tóc được chải búi tỉ mỉ, không có trang sức gì khác ngoài một một cây trâm ngọc lam điền xanh biếc, mi tâm đính một viên đá đỏ lớn cỡ đầu ngón tay.
"Văn Viên, ban thưởng ghế ngồi."
Một cung nhân nhất đẳng lập tức tiến lên chuẩn bị ghế cho Ngọc Thụ. Ngọc Thụ nói tạ ơn, vừa mới ngồi xuống thì đã nghe hoàng hậu hỏi: "Gần đây trong nhà vẫn ổn chứ?"
Ngọc Thụ cung kính đáp lời: "Thưa, tất cả đều ổn."
"Nghe nói các hoàng tử vừa mới đổi thầy dạy, Vĩnh Nhi theo kịp bài vở chứ?"
"Vĩnh Nhi tuổi còn nhỏ, thiên tư dĩ nhiên không sánh bằng chư vị hoàng tử. Nhưng thần thiếp có mời hai vị tiên sinh đến phủ phụ đạo thêm cho Vinh Nhi nên vẫn miễn cưỡng theo kịp ạ."
Hoàng hậu đột nhiên ho khan mấy tiếng, sắc mặt càng thêm tái nhợt, "Ngươi vốn xuất thân dòng dõi thư hương, dĩ nhiên biết được nên dạy dỗ con cái thế nào, chỉ là chớ nên quá nóng vội, Vĩnh Nhi còn nhỏ, chớ quản thúc thằng bé sớm như vậy."
Sau đó hai người lại bắt đầu nói sang chuyện nhà. Quan hệ giữa Ngọc Thụ và hoàng hậu trước giờ khá kỳ quái, tuy ngoài mặt hoàng hậu luôn đối với vương phủ vinh sủng có thừa, nhưng mỗi khi nói chuyện với nàng luôn xa cách mấy phần. Ngay cả mỗi lần nàng mang con trai đến thỉnh an, nói tới nói lui luôn chỉ có mấy chuyện vặt vãnh này.
Hàn huyên thêm một lúc, bên ngoài đột nhiên truyền vào tiếng động. Ngọc Thụ hoảng hốt, vội vàng kéo con trai đứng dậy. Rèm châu được vén lên, bóng dáng mặc long bào sáng chói của hoàng đế chậm rãi tiến vào.
"Thần thiếp thỉnh an hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế."
"Vĩnh Nhi thỉnh an hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế."
Hoàng đế khẽ phất tay rồi trầm giọng nói: "Bình thân."
"Tạ ơn hoàng thượng."
Hoàng đế tùy ý ngồi xuống một bên giường, hoàng hậu người mang bệnh nên vẫn nằm trên giường, chỉ cúi đầu thi lễ rồi mỉm cười hỏi: "Hôm nay sao hoàng thượng lại có thời gian rảnh rỗi đến đây thế?"
Hoàng đế nói: "Nghe Tôn thái y nói gần đây nàng không được khỏe nên mới đến xem nàng một chút."
"Hoàng thượng ngày nào cũng có cả núi sự vụ còn phải bận tâm đến sức khỏe của thần thiếp, thần thiếp thấy thật có lỗi."
Ngọc Thụ cúi đầu ngồi một bên, nghe hoàng đế và hoàng hậu khách sáo qua lại thì không khỏi có hơi mất tự nhiên, nên cũng im lặng không nói tiếng nào, chỉ kéo con trai đến gần mình hơn, tựa như đang thành tâm lắng nghe.
Hoàng đế nói qua nói lại mấy câu với hoàng hậu rồi quay lại hỏi Ngọc Thụ: "Gần đây trong nhà thế nào?"
"Thưa nhờ phúc của hoàng thượng, mọi thứ đều tốt."
"Các hoàng tử vừa mới đổi thầy, Vĩnh Nhi còn nhỏ như vậy, có theo kịp bài vở không?"
Ngọc Thụ thoáng ngây người, thầm nghĩ quả nhiên là vợ chồng, nhưng ngoài mặt vẫn nhanh nhảu gật đầu, "Đa tạ hoàng thượng quan tâm, vẫn miễn cưỡng theo được ạ."
Hoàng đế gật đầu, đang hỏi thêm ít chuyện vặt vãnh khác thì lại đột nhiên quay sang nói với nội thị Tào Thu đứng bên cạnh: "Mang bộ cung tên do Pháp Lương tiến cống đến đây, Vĩnh Nhi đã sắp tám tuổi, cũng đến lúc học binh pháp rồi. Huyền Mặc thích múa đao khua thương nhưng vẫn thành thạo nhất là bắn tên, hổ phụ sinh hổ tử, chắc chắn Vĩnh Nhi cũng sẽ không làm trẫm thất vọng."
Tào Thu nhanh chóng cúi người đưa ra một cái hộp dài. Ngọc Thụ vội vàng đứng dậy tạ ơn, trong lòng thoáng hơi lo lắng. Hoàng đế nói là đến thăm hoàng hậu, sao lại mang theo sẵn cung tên? Chẳng lẽ đã sớm biết nàng dẫn Vĩnh Nhi tiến cung sao?
Những năm này, hoàng đế quả thực đối xử với Huyền vương phủ rất tốt, ban thưởng các loại không ngừng đưa đến, chẳng hề vì vương phủ không có nam chủ nhân mà có chút chậm trễ nào. Vấn đề này đã khiến rất nhiều người âm thầm đoán già đoán non, hơn nữa mỗi lần hoàng đế nhắc đến Huyền vương đều như rất quen thuộc. Có điều theo Ngọc Thụ được biết, hoàng đế và vương gia nhà nàng chưa từng gặp nhau bao giờ.
Trong đầu nhất thời có rất nhiều câu hỏi nhưng Ngọc Thụ vẫn nhận lấy cái hộp. Vĩnh Nhi bên cạnh cũng tỏ vẻ vui sướng, đĩnh đạc dập đầu hai cái rồi cười nói: "Hoàng thượng đối với Vĩnh Nhi thật tốt."
Hoàng đế nở một nụ cười hiếm thấy, đứng lên nói: "Trẫm còn vài chính sự cần xử lý, tạm thời đi trước. Các người cứ ở lại trò chuyện với hoàng hậu." Dứt lời liền rời đi trong tiếng cung tiễn của mọi người.
Hoàng đế vừa đi thì hoàng hậu lại bắt đầu ho khan, tinh thần cũng như kém đi rất nhiều.
Văn Viện thấp giọng hỏi han gì đó, hoàng hậu nghe hỏi xong thì cởi bộ cung trang nặng nề trên người ra, thay bằng một bộ y phục đơn giản dùng khi ngủ. Trò chuyện thêm vài câu vô thưởng vô phạt, Ngọc Thụ nhìn thấy hoàng hậu lộ vẻ mệt mỏi thì đứng dậy xin cáo lui. Hoàng hậu cũng không giữ bọn họ lại, chỉ bảo cung nô đưa đồ ban thưởng đã chuẩn bị sẵn ra rồi cho thị nữ đưa hai mẹ con xuất cung.
Ngọc Thụ ôm Vĩnh Nhi ngồi trên xe ngựa chậm rãi đi qua con ngõ hẹp dài, gió thu thổi lên thành xe khiến màn cửa sổ nhẹ lay động. Ngọc Thụ vẫn còn mấy phần hoang mang, nghĩ kỹ lại thì dường như lần nào hai mẹ con nàng tiến cung cũng đều gặp được hoàng thượng, nói cách khác, mỗi lần bọn họ đến vấn an hoàng hậu đều trùng hợp lúc hoàng đến thăm hoàng hậu. Trong khi theo lý thì một vương phi ở góa thủ tiết như nàng không được diện kiến hoàng đế.
Trong lòng đột nhiên dâng lên cảm giác bất an, nhớ đến vẻ mặt của hoàng đế lúc nói đến trượng phu, Ngọc Thụ không khỏi nghi hoặc, mở cửa xe ra hỏi Khương Ngô: "Khương Ngô, vương gia bắn cung rất giỏi sao?"
Khương Ngô thoáng sửng sốt vì bị hỏi bất chợt, nhưng cũng mau chóng đáp lời: "Đó là dĩ nhiên ạ, nhưng kiếm pháp của vương gia mới là hạng nhất, kinh thành năm đó không ai không biết. Có điều nếu bàn đến khả năng bắn cung thì hoàng hậu nương nương cũng không kém cạnh đâu."
Ngọc Thụ chau mày, trong đầu xuất hiện một ý niệm không tên, nhưng cũng chỉ là thoáng qua, khiến nàng không thể làm rõ đó là gì.
Thế nên nàng cũng chỉ có thể gật đầu rồi rồi đóng cửa xe lại.
Phiên Ngoại 2: Âm Dương
Ngọc Thụ vừa đi thì Nạp Lan Hồng Diệp càng ho dữ dội hơn. Nhóm thái y trực ở thái y viện vội vàng chạy đến cung Chiêu Dương, lúi húi bắt mạch rồi nấu thuốc cho hoàng hậu, kéo dài khoảng hơn hai canh giờ.
Trong đại điện nồng nặc mùi thuốc, Nạp Lan Hồng Diệp nằm trên giường thở dốc không ngừng, bị giày vò gần nửa ngày đã khiến mặt nàng càng thêm tái nhợt.
"Hoàng hậu nương nương, đã hỏi thăm được rồi, tối nay hoàng thượng nghỉ lại ở điện Thanh Lộ, không có phi tần nào hầu hạ cả."
Nạp Lan Hồng Diệp đưa tay lên chặn ngực, yếu ớt hỏi: "Cả Trình phi cũng không?"
"Thưa không. Trình phi đang có nguyệt sự nên vẫn còn ở Hồng phường ạ."
Nạp Lan Hồng Diệp gật đầu, im lặng suy nghĩ trong chốc lát mới nói: "Trời càng lúc càng lạnh, ngươi đi bảo Tào Thu căn dặn bọn nô tài hầu hạ cẩn thận một chút, chớ để bệ hạ bị cảm lạnh."
Văn Viện 'dạ' một tiếng, định ra ngoài thì Nạp Lan Hồng Diệp lại chợt lên tiếng: "Thôi đi, không cần đi nữa."Dứt lời liền xoay lưng nằm quay mặt vào trong, nhẹ giọng nói: "Chưa cần dọn bữa tối lên đâu, bổn cung muốn ngủ một lát."
"Vâng thưa nương nương."
Yến Tuân lập nước đã gần năm năm, và cũng giống như rất nhiều đời hoàng đế khác, mỗi năm hậu cung đều có thêm vô số mỹ nhân trẻ tuổi, càng lúc càng náo nhiệt. Dung mạo xinh đẹp, phong thái trang nhã, bụng đầy thi thư, ngây thơ đáng yêu, mỗi người mỗi vẻ, tựa như tất cả hoa thắm trên thế gian đều tụ hợp lại đây, cùng lúc nở rộ khiến chốn thâm cung vốn tịch mịch này biến thành vườn hoa rực rỡ sắc màu.
Trong khi các phi tần khác lần lượt có thai, Nạp Lan Hồng Diệp đã vào cung bốn năm nhưng vẫn chưa sinh hạ được một đứa con nào. Trình phi, biểu muội của đại tướng quân Trình Viễn thậm chí còn cùng lúc sinh được một đôi lân nhi, địa vị ở hậu cung đã có phần lấn lướt vị hoàng hậu nhiều bệnh như nàng.
Mà người nọ cũng đã rất lâu chưa từng đặt chân đến cung Chiêu Dương. Nếu hôm nay không có Ngọc Thụ dẫn Vĩnh Nhi đến đây thì e chàng cũng sẽ không tìm đến.
Mặt trời dần xuống núi, vầng trăng treo ngang ngọn cây, tỏa ra ánh sáng bàng bạc bao phủ bốn phía. Nạp Lan Hồng Diệp hiện tại rất gầy, trong bộ y phục ngủ bằng gấm càng giống một chú hạc mong manh yếu ớt, thỉnh thoảng lại thấp giọng ho khan.
Nàng có lẽ đã sớm biết được kết cục này...
Sáu năm trước, sau khi cửa khẩu cuối cùng ở Đại Hạ bị quân Bắc Yến đánh hạ, tin tiểu thế tử của Thanh Hải vừa ra đời đã truyền ra khắp đại lục. Bởi vì lúc mang thai người mẹ chịu nhiều xóc nảy, thân thể không tốt nên đứa bé đã suýt bị chết non. Thanh Hải vương phi sinh con xong cũng trong tình trạng nguy ngập. Thanh Hải vương yêu vợ con nổi tiếng thiên hạ, năm đó có thể vì Tú Lệ vương mà bỏ qua cơ hội tranh thiên hạ với Yến Tuân thì đừng nói chi đến bây giờ.
Phía Thanh Hải lập tức phát ra thông báo đến toàn đại lục, treo giải thưởng vạn lượng vàng tìm kiếm danh y. Năm đó, Bắc Yến kết đồng minh với Hoài Tống vừa thành công giành được chiến thắng toàn diện. Nghe nói Thanh Trúc tiên sinh ở Mậu Lăng có y thuật cao minh, nhưng vì tuổi già lại thêm Thanh Hải là chỗ man di xa xôi nên không chịu dời bước, Thanh Hải vương chỉ với ba ngàn kỵ binh tinh nhuệ lại dám ra khỏi Thùy Vi Quan, liều mạng chạy một mạch đến thẳng Mậu Lăng bắt Thanh Trúc tiên sinh trở về, nhờ vậy mới cứu được mạng của tiểu thế tử và Tú Lệ vương.
Hôm tin tức được truyền đến chính là ngày nàng và Yến Tuân trao đổi canh thiếp, đôi uyên ương đỏ thẫm trên lá thiếp đã biến tâm nguyện nhiều năm của nàng thành sự thật.
Nạp Lan Hồng Diệp đưa tay xuống dưới gối lấy ra một tờ thiếp màu vàng, trên thiếp viết tên của hai người. Hai cái tên 'Yến Tuân' và 'Nạp Lan Hồng Diệp' được viết lồng vào nhau, nét bút dài tựa như đã họa ra nửa đời nàng.
Nàng đưa tay sờ lên hoa văn đôi uyên ương, đến chữ hỉ đỏ thắm, cuối cùng dừng lại trên tám chữ triện thếp vàng: Vĩnh viễn nắm tay, gắn bó trọn đời.
Chỉ bốn chữ đơn giản nhưng khóe mắt nàng lại ươn ướt khi nhìn thấy chúng.
Hôm đó đôi vợ chồng vừa cưới ngồi trên điện Hợp Hoan đón nhận sự chúc tụng của tất cả mọi người, hoa hạnh bên ngoài nở đầy cành, rực rỡ cả một khoảng trời, gió thổi qua kéo theo mưa cánh hoa tràn ngập không gian, đẹp một cách mộng ảo.
Yến Tuân bình thản ngồi trước mặt Nạp Lan Hồng Diệp, mở miệng đều toàn là những lời lẽ khách khí, nói không nhiều nhưng cũng không ít, vừa không thất lễ vừa không quá thân cận.
Nạp Lan Hồng Diệp đã mấy lần muốn nói ra bí mật cất giấu nhiều năm qua nhưng đều bị vẻ mặt lạnh nhạt của Yến Tuân cản lại. Mắt thấy trời đã bắt đầu tối, Yến Tuân tỏ ý định rời đi khiến Nạp Lan Hồng Diệp không khỏi có hơi nóng nảy, định mở miệng nói toạc ra thì thị vệ thân cận đột nhiên bẩm báo rằng có tình báo khẩn.
Thì ra là tin Thanh Hải vương đã gần đến Mậu Lăng.
Vẻ điềm tĩnh và lạnh nhạt trừ trước đến nay của Yến Tuân chợt thay đổi, hắn lập tức bảo thị vệ truyền lệnh tập hợp quân đội đóng ở lân cận Mậu Lăng, bằng mọi giá phải cầm chân Thanh Hải vương ở cửa khẩu.
Có điều thị vệ còn chưa ra khỏi cửa thì đã bị gọi giật lại. Trên mặt Yến Tuân như bị bao phủ bởi một màn sương mông lung, cánh tay vẫn duy trì tư thế đang đưa ra, môi khẽ hé như muốn nói nhưng lại không ra lời. Cánh hoa hạnh bên ngoài bị gió thổi tung lên cao, sau đó rơi ào ạt xuống trên mặt đất.
"Thôi đi." Yến Tuân thả tay xuống, khôi phục vẻ bình tĩnh trước sau không đổi vốn có.
"Thôi ạ?" Thị vệ sửng sốt, không tự chủ hỏi ngược lại.
Yến Tuân nghe hỏi thì khẽ nhướng mày, không nói tiếng nào mà chỉ đảo mắt một vòng nhìn thẳng vào mặt thị vệ nọ. Hàn khí từ ánh mắt đó khiến thị vệ rợn sống lưng, lập tức quỳ sụp xuống 'dạ' một tiếng thật to rồi lui ra ngoài.
Bên ngoài sắc trời dần tối, Yến Tuân quay đầu lại thản nhiên cười với Nạp Lan Hồng Diệp, cầm đũa gắp cho nàng một ít đọt măng tây xanh mướt, nói: "Ăn nhiều măng tây rất tốt cho sức khỏe."
Lăn lộn chốn quan trường gần nửa đời, Nạp Lan Hồng Diệp dĩ nhiên đã sớm học được cách kiềm chế bản thân cùng sắc mặt, nàng khẽ gật đầu, cười đáp: "Đa tạ bệ hạ."
Đây chẳng qua chỉ là một nốt nhạc đệm rất nhỏ, tất cả hạ nhân hầu bên cạnh đều đã quên câu chuyện vô thưởng vô phạt này, chỉ có nàng là nhớ rất rõ.
Tối hôm đó, trong dư âm hoàng hôn, nàng bất chợt hoảng hốt nhận rõ một chuyện mà nhiều năm qua mình vẫn một mực không chịu thừa nhận.
Bên trong tẩm điện truyền ra tiếng ho khan, Văn Viện ở ngoài vốc thêm một nắm huân hương bỏ vào lư hương, khẽ nhíu mày.
Ngoài cửa sổ, ánh trăng lả lướt, bóng cây lay động trong gió, mùa đông ở thành Chân Hoàng lại sắp đến.
................................................................................................
Đêm nay Ngọc Thụ khó ngủ do ban ngày đã ngủ khá nhiều.
Cuối cùng nàng khoác một tấm áo lông chồn bạc lên người, cầm đèn lồng đi đến phòng con trai. Vĩnh Nhi ngủ rất ngoan, không hề đá chăn lung tung, cái miệng nhỏ hơi chu chu như đang nằm mơ được ăn thứ gì rất ngon.
Ngọc Thụ ngồi xuống bên giường con trai, gió đêm thật tĩnh lặng, lò hương trong góc chầm chậm tỏa ra mùi hương có tác dụng an thần, từng vòng khói nhạt như khói bếp lượn lờ trên mái nhà ở nông thôn. Nàng muốn đưa tay sờ mặt con nhưng lại sợ trên tay có hơi lạnh bên ngoài làm cậu bé tỉnh giấc, nên cuối cùng chỉ vuốt nhẹ phần tóc lòa xoà trên trán cậu bé, khẽ mỉm cười.
Xa xa chợt truyền đến ba tiếng chiêng báo canh giờ, tiếng hô của phu canh kéo dài theo tiếng chiêng. Ngọc Thụ thấy lòng an bình đến lạ thường, ngay cả mấy câu như 'cẩn thận củi lửa' cũng nghe thật êm tai.
Một lát sau nàng đứng lên ra khỏi phòng, trước đó còn cẩn thận đóng kín cửa phòng, vừa xoay người định trở về phòng mình thì chợt nhìn thấy một đàn đom đóm.
Trong một khắc ngắn ngủi, nàng chợt ngây người.
Và tựa như trăm ngàn lần suốt mấy năm qua, nàng đứng chôn chân một chỗ, lẳng lặng ngắm nhìn đàn đom đóm bay lượn lờ trong không trung.
Năm năm rồi, tượng chàng ở Đông Hải có lẽ đã phủ đầy tro bụi, chúng ngôn quan địa phương có lẽ đã quên mất tên húy của chàng từ lâu, ngay cả người dân từng ngày đêm cầu phúc cho chàng có lẽ cũng đã lấy bài vị của chàng xuống, thay bằng bài vị của phụ mẫu và thân nhân.
Tất cả mọi người đã dần quên đi chàng, quên chiến công của chàng, quên mất giọng nói và nụ cười của chàng, quên những gì chàng từng làm cho đất nước, cái giá nặng nề chàng đã bỏ ra vì tổ quốc.
Chỉ có nàng, người phụ nữ khờ khạo như trong lời người khác là vẫn còn đến thư phòng chàng thắp nến mỗi khi trời tối.
Nàng rất ít khi đến gần thư phòng, ngay cả khi chàng còn sống, nấu canh xong cũng chỉ dám để thị nữ mang đi.
Chàng nói mình bận rộn chính sự, không thích bị quấy rầy. Nàng tin.
Chàng nói thư phòng có nhiều tin tức quân sự quan trọng, hạ nhân không được đến gần. Nàng tin.
Chàng nói tối nay bận xử lý chính sự đến khuya nên sẽ ngủ lại trong thư phòng, không phải chờ cửa. Nàng cũng tin.
Nàng khờ khạo như vậy đấy, vô luận nam nhân của nàng nói gì, nàng đều tin tưởng. Nhưng có những lúc nàng cũng muốn nói mấy câu đơn giản, ví dụ như, nàng không giống hạ nhân, nàng chỉ muốn vào đưa canh cho chàng, sẽ không quấy rầy đến chàng. Ví dụ như, nàng là vợ chàng, không phải là hạ nhân. Ví dụ như, thật ra thì đêm nào nàng cũng ngủ rất muộn, chàng có về trễ đến đâu cũng không sao, không phải sợ làm nàng thức giấc.
Song nàng vẫn không dám nói ra, cũng có lẽ là vì xấu hổ...
Cho nên, mỗi đêm nàng đều tựa đầu bên cửa sổ đau đáu nhìn ngọn đèn ở thư phòng, chờ đến khi đèn tắt thì mới lên giường, yên tâm nhắm mắt lại.
Thỉnh thoảng nàng cũng trộm nghĩ, như vậy có tính là cùng ngủ chung không nhỉ?
Nhưng chỉ vừa nghĩ thoáng qua thì nàng đã đỏ bừng mặt vì xấu hổ.
Mỗi lần về nhà mẹ đẻ, các tỷ tỷ đôi khi sẽ hỏi nhỏ mấy chuyện như vương gia nhà nàng có người bên ngoài phải không, vân vân. Và lần nào nghe được nàng cũng sẽ vô cùng tức giận. Vương gia là người thế nào, bọn họ sao có thể nói về chàng như vậy?
Nhưng nàng không khéo ăn nói nên lần nào cũng nói không lại các tỷ tỷ. Dần dần, ngay cả nhà mẹ đẻ nàng cũng ít về thăm.
Nàng biết mình có một vị phu quân tốt nhất trên đời, chàng chính trực, lương thiện, tài hoa hơn người, chàng là tấm gương được cả triều tán dương. Chữ của chàng đẹp nhất kinh thành, thi từ của chàng được lưu truyền rộng rãi bên ngoài, chàng không thích uống rượu, khi cần thì cũng chỉ uống xã giao, chưa hề để bản thân say bét nhè, không nạp thiếp cũng không lưu luyến bướm hoa chốn phong trần, trên triều được xưng tụng là Hiền vương, địa vị trong quân doanh lại cao hơn bất kỳ ai khác.
Tuy chàng thỉnh thoảng vì bận bịu chính sự nên lạnh nhạt với nàng, nhưng thế thì sao? So với mẫu thân và các tỷ tỷ phải cả ngày tranh thủ tình cảm của phu quân và chống đỡ với đủ loại chiêu trò của thiếp thất, nàng may mắn hơn rất nhiều.
Chàng là phu quân của nàng, là trời, là toàn bộ thế giới của nàng. Dĩ nhiên nàng phải tin tưởng, phải chăm sóc và chờ đợi chàng.
Nàng làm sao có thế hoài nghi, có thể nghi kỵ, có thể buồn giận hay oán trách chàng chứ?
Huống hồ, dẫu cho chàng đã qua đời thì nàng vẫn hưởng thụ thành quả từ chiến công của chàng. Và hơn hết cả, chàng còn để lại cho nàng thứ quý giá nhất, chính là con trai của hai người.
Như thế còn chưa đủ sao?
Ngọc Thụ mỉm cười, đưa tay khép chặt vạt áo choàng, thì thầm: "Ngày mai phải đi mua ít thêm giấy mới được, trời trở lạnh rồi, phải thay mới giấy dán cửa sổ thư phòng thôi."
Phiên Ngoại 3: Người Đã Khuất
Bên dưới khoảng trời xanh thăm thẳm, Nạp Lan Hồng Diệp dường như lại nhìn thấy bóng dáng người nọ.
Hoa lê nở rộ tô điểm thêm cho sắc xuân miên man, thiếu niên đứng dưới gốc hoa lê, người mặc áo choàng màu xanh ngọc, thắt lưng màu tím. Ánh mặt trời xuyên qua ngọn cây hắt lên mặt thiếu niên, hàng mi lưu lại bóng râm hình quạt trên sống mũi. Thiếu niên nhìn nàng từ xa chạy đến, cao giọng cười nói: "Này! Bắt ta chờ nửa ngày rồi đấy!"
Ánh sáng trước mặt chợt vỡ vụn, nàng thoáng thấy được vẻ mặt khẩn trương của Văn Viện, môi Văn Viện hé ra rồi lại khép nhưng nàng không hề nghe thấy được gì.
Nàng biết mình lại ngã bệnh. Xung quanh có rất nhiều người, ai đó đang cuống quít kéo tay nàng, lực mạnh đến mức khiến nàng hơi đau.
Nàng chau mày, hơi tức giận muốn khiển trách đám hạ nhân không biết nặng nhẹ này, nhưng giọng nói lại dường như không theo lệnh, nàng cố hé môi nhưng chỉ có thể hớp không khí như một chú cá bị mắc cạn, không chút sức sống.
Văn Viện nóng nảy quát tiểu thái giám đứng bên cạnh: "Sao hoàng thượng vẫn chưa tới? Đã đi thông báo chưa?"
Tiểu thái giám mặt trắng bệch, quỳ *phịch* xuống đất, khóc nức nở, "Nô tài đã đi mấy lượt, nhưng Trình phi nương nương lại nói rằng hoàng thượng đang ngủ trưa, có chuyện gì thì chờ hoàng thượng tỉnh lại rồi hẵng nói."
"Có lý nào lại như vậy!" Văn Viện phẫn nộ nói: "Trình phi thật to gan, từ khi nào thì đến phiên nàng ta quyết định những chuyện này chứ?"
Văn Viện theo hầu Nạp Lan Hồng Diệp đã lâu nên có địa vị khá cao, đám hạ nhân bên cạnh thấy nàng nổi giận thì đều quỳ rạp xuống đất, không dám hé môi nói lời nào.
Nhưng Nạp Lan Hồng Diệp lại nghĩ, Văn Viện đúng là càng lúc càng to gan, lời như vậy mà cũng dám nói ra, nếu truyền đến tai Trình phi thì e lại có một hồi sóng gió nữa rồi.
Nghĩ thế nhưng vẫn không nói tiếng nào, Nạp Lạp Hồng Diệp tiếp tục nhắm mắt dưỡng thần, mặc cho đám cung nhân đang cuống cuồng như kiến bò trên chảo nóng.
Mà Trình phi quả thật có hơi quá đáng, ỷ vào mẫu tộc và hai hoàng tử thân sinh, hành sự càng lúc càng không coi ai ra gì, ngang bướng tùy tiện, không buồn xem xét hậu quả. Sau khi khỏe lại, có lẽ nàng nên điều chỉnh lại một chút, không thể tiếp tục mặc cho nàng ta khuấy động cho hậu cung đầy chướng khí như vậy nữa.
Nạp Lan Hồng Diệp mệt mỏi thở dài, tiếng nói ầm ĩ bên tai dần rời xa, nàng chậm rãi chìm vào giấc ngủ đầy mộng mị.
................................................................................................
Trình phi Trình Dung Dung vốn là biểu muội của đại tướng quân Trình Viễn. Sau khi hoàng đế Đại Yến chọn đóng đô ở thành Chân Hoàng, vừa để bổ sung hậu cung vừa để lung lạc triều thần, Trình phi và chúng tiểu thư của đại thần trong triều lần lượt tiến cung. Nhờ thế lực của biểu ca và dáng vẻ xinh đẹp thông minh của bản thân, Trình phi nhanh chóng được hoàng thượng yêu thích. Mà nàng cũng không thua kém, thoáng cái đã sinh cho hoàng đế một đôi song nam, nhảy lên đứng đầu ba phi, địa vị chỉ sau mỗi hoàng hậu.
Trình phi vốn là một nữ tử thông minh biết tiến biết lùi, đáng tiếc vì liên tục được vinh sủng, quyền lực đến quá nhanh nên hành sự càng lúc càng không kiêng nể ai, nói chuyện cũng không hề dè chừng.
Yến Tuân chợp mắt khá lâu. Mãi đến xế chiều, khi mùi thức ăn thơm lừng ở ngự thiện phòng tỏa ra từng ngõ ngách của cung Thịnh Kim thì hắn mới chậm rãi tỉnh lại.
Đêm qua biên quan có tin khẩn, Yến Tuân thức cả đêm nên bây giơ vẫn hơi choáng váng.
Trình phi mặc y phục lụa màu vàng nhạt quỳ dưới chân giường, yểu điệu dâng một chén trà nhài lên cho Yến Tuân, thuận miệng kể ra vài chuyện lý thú trong cung.
Yến Tuân hờ hững nghe, thỉnh thoảng mới nói mấy câu ứng phó, một câu than phiền bay vào tai khiến hắn hơi ngẩn người, lập tức cúi đầu hỏi: "Vừa rồi mới nói gì?"
Trình phi giật thót trong bụng, cố gắng trấn tĩnh, nói mà vẫn giữ nụ cười: "Lúc trưa Tiểu Thuận Tử ở điện Đông Nam có đến báo hoàng hậu nương nương không khỏe, thần thiếp thấy hoàng thượng ngủ say nên không nỡ đánh thức. Thần thiếp cũng đoán là bọn hạ nhân không hiểu chuyện, chỉ thích xé chuyện nhỏ thành chuyện to mà thôi. Thân thể hoàng hậu nương nương trước giờ không tốt là chuyện ai cũng biết, nương nương thường không muốn vì chút chuyện nhỏ này mà phiền đến hoàng thượng. Lần này nương nương nhất định là không biết nên bọn hạ nhân mới được dịp làm bậy, biết rồi thì chắc chắn sẽ xử phạt bọn họ thật nặng vì dám đến quấy rầy hoàng thượng."
Yến Tuân ngồi trên giường, không nói không rằng rửa tay, lau mặt, uống trà rồi mang giày vào, ánh mắt thâm trầm cùng vẻ bình thản khiến người khác không nhìn ra hắn đang nghĩ gì.
Trình phi mừng thầm trong lòng, rối rít hầu hạ Yến Tuân rửa mặt thay quần áo. Chẳng ngờ Yến Tuân chỉnh trang xong y phục liền dợm chân đi ra ngoài. Trình phi cuống quýt hỏi: "Hoàng thượng không ở lại dùng bữa tối sao?"
Yến Tuân chậm rãi xoay người lại, ráng chiếu chiếu lên khuôn mặt tuấn tú càng làm nổi bật đôi mắt sâu thăm thẳm. Hắn lẳng lặng nhìn Trình phi, không lộ ra chút tức giận gì nhưng ánh mắt lại khiến người khác lạnh sống lưng, không tự chủ phải rùng mình.
Trình phi lập tức quỳ *phịch* xuống, mặt trắng bệch. Kết cục của sủng phi Viên Thế Lan năm đó hiện lên trước mắt khiến nàng sợ đến run cầm cập.
Tẩm điện yên tĩnh như tờ, không biết qua bao lâu Trình phi mới nghe thấy thị nữ nhỏ giọng nói bên tai: "Nương nương, hoàng thượng đi rồi."
Trình phi chậm rãi ngẩng đầu lên, cảm nhận được hai bên thái dương đã đầy mồ hôi lạnh, cố đứng dậy nhưng lại loạng choạng suýt ngã. Thị nữ hoảng hốt đỡ lấy rồi dìu nàng đến ngồi xuống giường.
Trình phi đưa tay lên ngực, mặt trắng bệch, hồi lâu vẫn không nói gì.
Nàng biết, tuy hoàng thượng không nói gì, nhưng tại khoảng khắc vừa rồi, bản thân đã ở rất gần cái chết.
Bên ngoài càng lúc càng tối, Trình phi im lặng cân nhắc, cuối cùng thở ra một hơi thật dài, lệnh cho thị nữ: "Cho người kéo Tiểu Đặng Tử xuống đánh ba mươi bản, sau đó chuẩn bị hậu lễ, ngày mai chúng ta đến trước cửa cung Chiêu Dương xin tội với hoàng hậu nương nương, nói là do thái giám gác cổng lười biếng nên báo tin sai."
Thị nữ 'dạ' nhỏ một tiếng rồi lui ra, tuy sợ hãi nhưng cũng không dám chất vấn. Lát sau bên ngoài liền truyền vào tiếng hét thảm thiết của Tiểu Đặng Tử.
Nói cho cùng thì có thể leo đến vị trí này đều tuyệt đối không phải là nữ tử đơn thuần không hiểu chuyện. Trình phi biết tiến biết lùi, hiểu được nặng nhẹ thế nào, tuy thỉnh thoảng sẽ hành xử ương ngạnh, nhưng chỉ cần có gió động cỏ thì sẽ nhanh chóng tỉnh ngộ.
Ánh mắt lạnh lùng đó chính là hồi chuông cảnh tỉnh.
"Như Liễu, chuẩn bị nhang đèn và kinh văn, bắt đầu từ ngày mai, bổn cung sẽ mỗi ngày đến Phật đường chép kinh cầu phúc cho Đại Yến."
"Dạ."
Thăm dò một lần là đã quá đủ.
Trình Dung Dung thở dài, đưa tay chạm lên y phục ngủ bằng gấm Yến Tuân mặc khi nãy, chỉ cảm thấy lạnh lẽo như băng.
................................................................................................
Lúc Yến Tuân đến điện Đông Nam thì trời đã tối mịt.
Bên trong điện nến cháy leo lét, chúng thái y đã lui ra từ lâu, nội thị nhìn thấy hoàng đế giá lâm đều đồng loạt quỳ xuống, vừa định cao giọng thông báo thì bị ngăn lại. Yến Tuân đi thẳng vào trong tẩm cung vắng vẻ, cung nhân đều quỳ xuống hành lễ, đầu cúi thật thấp.
Nạp Lan Hồng Diệp đã ngủ thiếp đi, thân hình vùi trong tầng tầng chăn gấm càng thêm gầy gò, sắc mặt tái nhợt.
Văn Viện mừng rỡ trải thêm nệm ở một bên giường nhưng Yến Tuân lại tự mình kéo ghế đến ngồi xuống đối diện với Nạp Lan Hồng Diệp.
Toàn bộ cung nhân đều đã lui xuống, chỉ còn lại hắn lẳng lặng ngồi nhìn và nàng ngủ li bì.
Hắn dường như chưa bao giờ nhìn thấy nàng như thế này. Nạp Lan Hồng Diệp trong trí nhớ luôn mang dáng vẻ đoan trang, y phục lộng lẫy xa hoa, dung mạo trang nhã, lời lẽ đúng mực, trên mặt vĩnh viễn treo nụ cười mỉm xa cách, toàn thân luôn toát ra khí tức hoàng gia cao quý. Cả trong đêm tân hôn, lúc cùng giường cũng không mất đi phong thái công chúa một nước.
Nhưng nàng hiện giờ lại tiều tụy, gầy gò đến mức khi nhìn nàng, Yến Tuân thật sự không cách nào nhận ra cô gái trước mặt và vị Trưởng công chúa cơ trí trước kia là cùng một người.
Năm tháng trôi qua như dòng nước, mới chớp mắt mà đã nhiều năm như vậy.
Yến Tuân không nói tiếng nào, chỉ lẳng lặng ngồi một lúc rồi rời đi, nhưng như thế cũng đủ khiến hạ nhân trong điện Đông Nam mừng đến nói không nên lời. Văn Viện ở bên ngoài mừng rỡ đi tới đi lui sắp đặt mọi chuyện, bởi vì trước khi rời đi hoàng thượng đã nói ngày mai sẽ lại đến thăm hoàng hậu.
Cửa điện Đông Nam được khép lại, Nạp Lan Hồng Diệp mở mắt ra.
Nàng hiện đã gầy đến mức hốc mắt hõm sâu, nhưng ánh mắt vẫn sắc bén trầm tĩnh như cũ, vẻ cơ trí và từng trải không hề suy giảm.
Chiếc ghế bằng gỗ lim cạnh giường không còn bóng người ngồi, nhìn được hoa văn song long hí châu khắc tỉ mỉ trên lưng ghế, rõ ràng đến từng chi tiết.
Đã nhiều năm như vậy, Nạp Lan Hồng Diệp, mi có từng hối hận không?
Dưới ánh nến yếu ớt, nàng thì thầm tự hỏi bản thân.
Nhưng cuối cùng nàng chỉ cười nhạt rồi nhắm mắt lại.
................................................................................................
Cuộc sống trong cung vẫn trôi qua đều đều như thường lệ, thời tiết càng lúc càng lạnh khiến trong phòng có thêm nhiều chậu than hơn. Sức khỏe của hoàng hậu vẫn không khá thêm được chút nào. Chúng thái y tựa như đã dọn nhà đến đóng đô ở điện Đông Nam, cả ngày ra ra vào vào, liên tục không ngừng.
Hôm nay chính là ngày các tiểu hoàng tử phải lên lớp, Ngọc Thụ lại nhân dịp mang theo ít tổ yến nhân sâm, dẫn Vĩnh Nhi đến thăm hoàng hậu. Hai mẹ con ngồi trong tẩm điện ấm áp trò chuyện với hoàng hậu.
Nói chuyện phiếm một lát, thấy Nạp Lan Hồng Diệp tỏ vẻ mệt mỏi, Ngọc Thụ định cáo từ thì lại chợt nghe thấy nàng nhỏ giọng hỏi: "Mai là ngày giỗ của Huyền vương có đúng không?"
Ngọc Thụ hơi sững sờ, đáy lòng chợt dâng lên cảm giác căng thẳng, thấp giọng đáp: "Dạ đúng ạ."
Nạp Lan Hồng Diệp gật đầu ra hiệu, Văn Viện ở một bên tươi cười trình lên một chiếc hộp gấm nhỏ, Nạp Lan Hồng Diệp lặng lẽ nói: "Vương gia có đại công với đất nước, thân thể bổn cung không tốt, không tiện đi tế bái, đành nhờ vương phi mang giùm một chút tâm ý của bổn cung đi cầu phúc cho vương gia."
Tẩm điện ấm áp nhưng Ngọc Thụ lại cảm thấy đầu ngón tay lạnh buốt, nàng nhẹ cắn môi dưới, máy móc nhận lấy chiếc hộp gấm, cung kính cúi đầu, "Thần thiếp thay mặt phu quân đã khuất tạ ơn hoàng hậu ban thưởng."
Nạp Lan Hồng Diệp lắc đầu, vừa định nói gì thì bên ngoài chợt có thị nữ chạy vào thì thầm gì đó bên tai Văn Viện. Văn Viện vừa nghe thì thoáng khựng người, nhanh chóng quay sang nhìn Nạp Lan Hồng Diệp.
Ngọc Thụ lập tức đứng dậy cáo từ, Nạp Lan Hồng Diệp cũng không giữ lại.
Ngoài điện ánh nắng chan hòa nhưng lòng bàn tay Ngọc Thụ đều là mồ hôi lạnh. Nàng siết chặt góc vạt áo, tựa như làm vậy là có thể bóp chết chút ý niệm vừa lóe lên trong đầu.
Chợt có một nhóm thái giám hối hả chạy về phía tây hoàng cung đã thu hút sự chú ý của nàng, Ngọc Thụ thuận miệng hỏi thị nữ thân cận: "Đã xảy ra chuyện gì vậy? Bọn họ đang làm gì thế?"
Tiểu nha hoàn ra vào hoàng cung nhiều lần nên cũng lanh trí chạy tới nghe ngóng mấy câu, nhưng lúc trở về lại lộ vẻ hoang mang, "Vương phi, là Viên mỹ nhân ở lãnh cung phía tây hoàng cung treo cổ tự tử."
"Viên mỹ nhân?" Ngọc Thụ sửng sốt hỏi lại.
Tiểu nha hoàn liếm môi dưới, đáp lời: "Chính là Sở phi nương nương lúc trước."
"Viên Thế Lan?" Ngọc Thụ thực sự kinh hãi.
Sở phi, nguyên danh Viên Thế Lan, từ khi Đại Yến lập quốc đến nay, nàng chính là vị sủng phi truyền kỳ có một không hai chốn hậu cung đông đúc này.
Viên Thế Lan vốn là một cung nữ vô danh tiểu tốt ở hoán y cục, một lần phạm lỗi liền bị lôi vào phòng dụng hình. Chẳng ngờ cô cung nữ mảnh khảnh này lại biết chút võ nghệ phòng thân, đến nửa đêm đả thương ma ma canh gác ở phòng dụng hình rồi trốn ra ngoài. Trong lúc hoảng hốt chạy trốn, nàng lại đụng phải kiệu của hoàng đế vừa hồi cung từ Thượng thư phòng. Trên người đã bị trúng một mũi tên, nàng cùng đường nên đập đầu vào cửa điện Sở Lam, thà chết cũng không chịu trói.
Hoàng thế yêu thích khí phách của nàng, sau khi cho người cứu chữa thì phong nàng làm quý nhân ngũ phẩm, độc sủng suốt nửa năm. Viên Thế Lan liên tục được tấn phong như diều gặp gió, cuối cùng được phong làm Sở thục phi. Quan viên trên triều được tin thì bất mãn dâng tấu nói bóng nói gió nhưng hoàng đế vẫn không hề mảy may dao động. Nhất thời, trong hậu cung không một ai có địa vị sánh bằng Sở phi.
Mãi đến một đêm mưa của ba tháng trước, điện Sở Lam vọng ra một trận náo loạn, Sở phi nương nương được sủng ái nhất hậu cung đột nhiên bị giáng chức, trong vòng ba ngày từ Thục phi nhị phẩm bị giáng liền bốn cấp xuống thành mỹ nhân thất phẩm, phải sống một mình tại lãnh cung ở phía tây hoàng cung.
Không ai biết đêm đó đã xảy ra chuyện gì, chỉ nghe người khác kể rằng Sở phi cãi nhau với hoàng thượng, trong lúc vọng động tự hủy dung mạo, trở thành người không ra người, quỷ không ra quỷ, chọc cho long nhan phẫn nộ nên mới bị giáng chức.
Chúng cung nhân nghe nói vậy thì đều giễu cợt hết lời, trước là lúc được sủng ái, Viên Thế Lan hết sức kiêu kỳ, không hề giao hảo qua lại với các phi tần khác, sau nữa là phụ nữ từ trước đến nay đều dựa vào nhan sắc lấy tâm quân vương, nàng ngu xuẩn tự hủy dung, dĩ nhiên sẽ chẳng ai thèm thương cảm lấy nửa phần.
"Vương phi? Vương phi?" Tiểu nha hoàn e dè gọi mấy lượt.
Ngọc Thụ hồi thần, vội vàng nói: "Lập tức xuất cung."
Xe ngựa hối hả lăn bánh rời khỏi hoàng cung. Chân trời phía tây chợt có đàn quạ bay lên, vài cọng lông vũ đen nhánh chậm rãi theo gió lạnh rơi xuống chốn cung đình tĩnh mịch.
Phiên Ngoại 4: Huyền Mặc
Nạp Lan Hồng Diệp nghe được tin Viên Thế Lan tự vẫn thì trầm mặc hồi lâu. Văn Viện dẫn bọn cung nhân lùi xuống, trả lại vẻ tĩnh lặng cho tẩm điện.
Nạp Lan Hồng Diệp nhớ đến lần cuối cùng nhìn thấy cô gái lạnh lùng như băng tuyết kia, trên đầu được băng kín mít, tuy không nhìn thấy vết thương nhưng qua vết máu thấm qua tầng băng dày vẫn có thể tưởng tượng được là nghiêm trọng đến cỡ nào.
Viên Thế Lan bình thản nhìn Nạp Lan Hồng Diệp, nói bằng giọng điệu nhẹ bẫng như sương: "Không phải là ta thì cũng tuyệt đối không phải là ngươi."
Nạp Lan Hồng Diệp nở nụ cười lạnh nhạt, thật ra thì với thân phận hoàng hậu, nàng không nên đi gặp một phi tử đã bị đày đến lãnh cung, nhưng đã quyết định đến đây thì tất nhiên sẽ không để bản thân bị khích tướng bởi mấy lời này. Nàng lẳng lặng nhìn cô gái trước mặt, hỏi một câu vẫn luôn cất giấu tận đáy lòng: "Tuy không phải là ngươi nhưng ngươi hà tất phải làm như vậy. Chẳng lẽ ngươi không biết trên dưới hậu cung này đều mong chờ ngươi có ngày này sao?"
"Ai rảnh rỗi tranh đấu với lũ đàn bà ăn không ngồi rồi đó chứ?" Viên Thế Lan lạnh lùng cười một tiếng, khóe miệng có vết dao cứa nhìn vô cùng đáng sợ, "Ta chỉ không muốn lãng phí thời gian với một nam nhân vô tâm."
Nạp Lan Hồng Diệp hỏi tiếp: "Vậy ngươi đối với hoàng thượng thì sao? Ngươi cũng vô tâm với hoàng thượng sao?"
Vẻ mặt Viên Thế Lan đột nhiên trở nên dữ tợn, nàng quay ngoắt đi, gằn giọng nói từng chữ một: "Đồ không thuộc về ta, ta không cần."
Bên trong điện Đông Nam rực rỡ ánh đèn, Nạp Lan Hồng Diệp tựa người vào lưng ghế, bất giác cười khẽ.
Thật sự không cần? Thật sự là vô tâm? Nếu quả thật như lời ngoài miệng thì sao lại tự hủy dung vì một người bản thân không cần? Sao lại hối hận rồi quyết liệt tìm chết trong cô đơn tận cùng như vậy?
Cuối cùng là do tuổi trẻ cương liệt hay là ngây thơ tùy hứng mới có thể hành xử theo cảm tính, mới có thể làm không cần nghĩ? Nếu nàng cũng vô trách nhiệm tìm cái chết như vậy, người thân cùng con dân của nàng sẽ ra sao?
Chỗ đáng sợ của hậu cung chính là nó có thể khiến một người phát điên, có thể khiến một thiếu nữ thanh xuân tự cầm dao cứa lên mặt mình, sau đó thẳng thừng nói chết là chết.
Nàng cũng từng có ý định khiến người nọ áy náy tự trách, khiến người nọ phải vĩnh viễn nhớ đến nàng. Nhưng trong chốn cung đình rộng lớn này, sống chết của nàng bất quá chỉ là một đốm lửa nhỏ lóe lên rồi chợt tắt, ngoại trừ trở thành đề tài nói chuyện phiếm của chúng cung phi thì sẽ chẳng gây nên bất kỳ chấn động gì.
Hoàng cung này, thứ không thiếu nhất chính là oan hồn. Theo thời gian, một tháng, hai tháng, một năm rồi hai năm, có ai còn nhớ được từng có một vị Sở phi độc chiếm mọi sủng ái chứ?
"Đúng là ngu ngốc!" Nạp Lan Hồng Diệp thở dài.
Đã leo đến được vị trí Thục phi, chưa kể đến dung mạo và tính tình giống nhường ấy, muốn được sủng ái cả đời cũng không phải là chuyện khó. Đáng tiếc, nàng ta lại một mực phủi sạch tất cả.
"Nương nương?" Văn Viện đứng ở cửa, tay bưng một chén thuốc vừa mới sắc, nhỏ giọng gọi.
Nạp Lan Hồng Diệp tùy ý vẫy tay ra hiệu cho Văn Viện đi vào, nhận lấy chén thuốc uống từng muỗng một. Chất thuốc đắng chát nhưng nàng lại như đang uống canh, chân mày không hề nhíu dù chỉ một chút. Văn Viện đứng một bên nhìn chén đường viên nhỏ trên khay, đã mấy lần mấp máy môi định lên tiếng nhưng cuối cùng vẫn không nói lời nào.
"Truyền ý chỉ của ta, Viên mỹ nhân hiền lương thục huệ, không may qua đời vì bệnh hiểm, nay tấn phong làm huệ nhân lục phẩm, được phép chôn cất ở lăng Tây Phi, thưởng cho mẫu tộc một ngàn lượng vàng, ban cho huynh trưởng của nàng một chức quan, bảo Hộ bộ thu xếp công việc."
Văn Viện hơi sững người, khó hiểu nhìn Nạp Lan Hồng Diệp.
Không sai, Trưởng công chúa có quyền bàn chính sự, cũng được phép bổ nhiệm chức quan tứ phẩm trở xuống cho đất thuộc Hoài Tống. Nhưng sau khi bị bệnh, đã hai năm nàng không dùng đến quyền này, hôm nay lại làm vậy chỉ vì một phi tần mắc tội, đáng giá sao?
Nhưng Nạp Lan Hồng Diệp cũng không giải thích lời nào, chỉ tiếp tục nói: "Gần đây hoàng thượng bận rộn chính sự, không cần báo tin Viên mỹ nhân qua đời cho hoàng thượng biết. Truyền lên đến các cung, bảo bọn họ giữ mồm giữ miệng cho tốt."
Văn Viện vội vàng gật đầu xác nhận đã rõ rồi đi ra ngoài.
Tẩm điện yên tĩnh trở lại, nghĩ ngợi một hồi dường như đã khiến Nạp Lan Hồng Diệp mệt mỏi. Nàng nằm xuống giường, dùng đầu ngón tay nhẹ day day huyệt thái dương, khẽ nhíu mày.
Dù tức giận nên giáng chức nàng ấy, nhưng tình cảm có lẽ vẫn còn đó. Biết được nàng ấy tự vẫn chàng hẳn sẽ không khỏi có mấy phần đau buồn. Hiện tại tình hình biên cảnh Tây Bắc đang gay gắt, trên triều lại tranh đấu không ngừng, chàng đã có quá nhiều thứ để lo rồi.
Uống thuốc xong lại bắt đầu buồn ngủ, Nạp Lan Hồng Diệp mơ màng nghĩ, phi tần bị đày đến lãnh cung sẽ không được phép diện kiến long nhan cả phần đời còn lại. Qua hai ba năm nữa có lẽ sẽ quên thôi. Mà cho dù bất chợt nhớ đến thì hẳn sẽ không quá thương tâm vì một người đã qua đời vì bệnh.
Nến vẫn cháy *lách tách*, đêm khuya vô cùng vắng lặng.
Ý chỉ từ điện Đông Nam được truyền ra ngoài, chủ nhân các cung tần khác nhanh chóng lĩnh hội tâm tư của hoàng hậu. Tuy có người thấy tức giận vì việc hoàng hậu đối xử tử tế như vậy với người nhà của Viên Thế Lan, nhưng cũng chẳng ai có gan nói gì. Mấy hôm trước tin Trình phi tự mình tới xin tội với hoàng hậu rồi ở rịt trong Phật đường đã khiến bọn họ hiểu được một chuyện, trọng quyền vẫn còn nằm trong tay hoàng hậu, không thể coi thường.
Hậu cung trở lại bình lặng như trước, tựa như mặt hồ mùa thu, không một gợn sóng. Mỗi ngày vẫn có đàn sáo du dương, xóa sạch mọi u ám vì tin một tần phi vừa tự vẫn, tất cả mọi hòa thuận êm ấm ngoài mặt và mưu tính ngầm đều bị tuyết lạnh của mùa đông bao phủ. Giữa hoàng cung rộng lớn, cô gái có trái tim tựa băng và đôi mắt sắc bén kia đã hóa thành bông tuyết, lặng lẽ rơi xuống đất mà không phát ra tiếng động nào.
"So với cái chết, sống vĩnh viễn luôn cần nhiều dũng khí hơn." Nụ cười trên môi Nạp Lan Hồng Diệp bao giờ cũng rất nhẹ.
Nàng nhìn ra khoảng trời đang dần sáng lên bên ngoài cửa sổ, như lại thoáng thấy được một bóng dáng cao gầy đang lẳng lặng nhìn mình. Trường kiếm bên hông nằm ngoan ngoãn trong vỏ, che giấu sự sắc bén vốn có.
Người nọ cứ đứng như vậy, trên đỉnh đầu là một khoảng không đen mù mịt, tựa như một cánh bướm đang gượng hơi tàn cố bay lên. Hôm phụ hoàng hạ táng, người nọ đứng sau cô công chúa đang khóc bi thương là nàng, nói ra một câu như vậy.
Ngoài cửa sổ đột nhiên nổi gió, bông tuyết đầu đông theo gió hết bay múa khắp không trung rồi lại la đà trên mặt đất, nhìn như một đàn cá trắng đang uốn lượn dưới đáy biển sâu.
"Thế thì sao huynh lại đột nhiên mất đi dũng khí vậy?"
................................................................................................
Ngọc Thụ còn nhớ rất rõ ngày Huyền Mặc qua đời, hôm đó trời mưa rất to, *ào ạt* như thác đổ. Chúng thái y chạy đến vương phủ đều bị mưa làm ướt sũng như chuột lột.
Ban sáng rõ ràng trời còn trong xanh không một bóng mây, nàng còn bảo hạ nhân chuyển sách trong thư phòng của chàng ra sân phơi nắng, nắng ấm chiếu rọi bốn phía, vô cùng dễ chịu.
Nhưng đến đêm thì thủy quân ở khu vực đông nam lại đột nhiên hộ tống một cỗ xe ngựa ào vào thành, đi thẳng đến cửa chính của phủ Huyền vương.
Chàng được đỡ xuống khỏi xe ngựa rồi đưa đến thư phòng, sắc mặt trắng bệch, sau khi thay đổi triều phục thì quả quyết muốn vào cung, nhưng còn chưa ra khỏi cửa chính thì đã ngã xuống, máu tươi túa ra ướt đẫm áo. Nàng luống cuống đứng bên cạnh, sợ hãi đến bật khóc. Bọn gia đinh cuống cuồng đưa chàng vào nhà rồi hối hả chạy ra ngoài tìm đại phu.
Trời bắt đầu đổ mưa ngay từ lúc đó.
Liên tiếp bảy ngày không hề ngưng.
Dân chúng đều nói rằng là ông trời khóc thương Huyền vương gia, là nước mắt tiễn đưa một bậc trung lương.
Chúng thái y vào phòng rồi lại đầy mồ hôi đi ra, nói cái gì thương thế quá nặng, mất máu quá nhiều, cái gì chinh chiến liên tục nên sức khỏe suy yếu, thương thế chưa lành mà đã lao lực, cái gì vết thương sâu đến tận tim phổi. Nhưng nàng đều không nghe vào tai, chỉ đăm đăm nhìn một đám lão nhân râu tóc bạc trắng đi qua đi lại trước mặt mình, người nào cũng mang sắc mặt nặng nề, miệng hé ra đóng vào như bầy cá đang thở dưới biển sâu.
Nàng tự hỏi, bọn họ đang nói gì vậy? Sao còn đứng đây nói mà không vào chữa bệnh? Chàng khỏe như vậy, nhấc được cả đại đao nặng hơn tám mươi cân, có thể múa trường thương bằng sắt nặng hơn trăm cân thì chảy chút máu như này có là gì? Tại sao chàng còn nằm đó, sao vẫn không đứng dậy? Lễ nạp thái* của Trưởng công chúa đã qua, ngày mai Yến hoàng sẽ trở về nước, chàng là trọng thần của Hoài Tống, sao có thể không đi đưa tiễn?
*Lễ nạp thái: sau khi nghị hôn, nhà trai mang sang nhà gái một cặp "nhạn" để tỏ ý đã kén chọn ở nơi ấy.
Nàng tự động loại bỏ tất cả những âm thanh bên tai, cố chấp chạy đến cạnh chàng, khẽ lay lay tay chàng, nhỏ nhẹ thỏ thẻ bên tai chàng như đã làm rất nhiều năm: Vương gia, ngài dậy đi. Vương gia, tỉnh dậy đi...
Những chàng vẫn không động, hai mắt vẫn nhắm nghiền, mi tâm nhíu chặt, như đang ngủ mà vẫn canh cánh tâm sự gì đó, cánh tay lạnh như băng.
Nàng rốt cuộc bắt đầu thấy sợ, nhưng vẫn không dám dùng sức, chỉ nhẹ nhàng đẩy đẩy tay chàng, liên tục gọi chàng tỉnh dậy...
Xung quanh dần dần vang lên tiếng nghẹn ngào, đám nha hoàn len lén rút khăn tay lau nước mắt. Nàng nghe được thì đột nhiên tức giận, xoay người lại quát đuổi tất cả đi.
Bên ngoài mưa rất lớn, cửa vừa hé ra thì gió tạt nước mưa lạnh như băng vào phòng, khiến y phục trên người nàng thoáng cái đã bị thấm ướt.
Có thái y tiến lên nhỏ giọng khuyên nhủ: "Vương phi, vương gia đã không thể cứu nữa rồi, xin vương phi nén bi thương."
Nàng tự nhận mình cả đời hiền lương, lúc còn ở nhà thì hiếu thuận với cha mẹ, nghe lời huynh trưởng và tỷ tỷ, sau khi xuất giá thì coi phu quân như trời, chưa từng dám có nửa lần vọng động tùy hứng nào. Nhưng khoảnh khắc nghe thái y nói như vậy, nàng đã lập tức quay lại tát mạnh vào mặt vị thái y già cấp bậc tam phẩm kia, phẫn nộ nói: "Ngươi nói bậy!"
Nhưng vị thái y già không hề nói gì, chỉ lẳng lặng nhìn nàng, ánh mắt vẫn vô cùng bình tĩnh, đầy vẻ cảm thông và thương cảm.
Ánh mắt đó đã khiến nàng sụp đổ, dưới chân chợt mềm nhũn, trước mắt tối sầm đi.
Khi nàng tỉnh lại thì vương gia cũng đã tỉnh, tất cả thuộc hạ cũ đều tụ tập trong sân, lần lượt từng người một tiến vào nghe chàng dặn dò. Nhìn thấy nàng ôm con trai đến, những người đó liền tự động nhường đường cho nàng.
Nàng đứng dưới gốc anh đào trước cửa phòng, lẳng lặng nhìn ánh nến lập lòe bên cửa sổ. Khung cảnh hệt như rất nhiều năm trước, khi bọn họ gặp nhau lần đầu tiên. Khi đó nàng còn rất trẻ, ngoan ngoãn đi theo sau phụ thân, bên cạnh có cả huynh trưởng và chúng tỷ muội, còn có rất nhiều thiên kim tiểu thư và con cháu thế gia. Khi đó nàng mặc một bộ y phục bằng gấm trắng thêu hoa văn chìm đơn giản, nhìn như một chú nhạn không có lông, còn chàng đứng trên hàng lang gấp khúc, môi nở nụ cười ôn hòa khiến khuôn mặt anh tuấn bừng sáng, ấm áp như gió đầu xuân.
Hạ nhân đứng sau lưng che dù cho hai mẹ con, Vĩnh Nhi còn rất nhỏ, khuôn mặt mũm mĩm dúi chặt vào ngực nàng, thỉnh thoảng còn ngáp thật to như đang rất buồn ngủ.
Nhóm quan lại ngoài sân nói rất nhiều, vì nàng là thê tử của chàng nên chẳng ai kiêng kỵ. Phần lớn chủ đề nghị luận đều là về chuyện sau khi Trưởng công chúa hòa thân đến Bắc Yến, những cựu thần Hoài Tống như bọn họ sẽ ra sao, phải làm thế nào mới có chỗ đứng ở tân triều, phải làm thế nào hòa nhập với triều đình Đại Yến để có thể trợ giúp công chúa, xem có nên xin chàng viết thư để bọn họ đưa đến tay Yến hoàng hay không.
Cuối cùng thì đám đông cũng thưa dần, khoảng sân trở nên yên tĩnh, ngoài tiếng mưa thì không còn âm thanh nào khác.
Quản gia đi đến che dù cho nàng, đưa nàng vào phòng.
Chàng đang ngồi tựa người vào đầu giường, trên người mặc bộ trường sam rộng thoải mái. Nhìn thấy nàng, chàng nở một nụ cười dịu dàng muôn thuở, giơ tay chỉ vào chiếc ghế cạnh mình, bảo: "Ngồi đi."
Nàng máy móc ngồi xuống ghế, hai mắt nhìn chàng chằm chằm, hốc mắt đã đong đầy lệ nhưng nàng vẫn cắn chặt môi, không chế không để bản thân khóc thành tiếng.
"Ngọc Thụ, về sau nàng phải chịu khổ rồi." Chàng bình tĩnh nhìn nàng, không nhanh không chậm nói ra những lời này.
Hai củ sâm già cắt lát trong chiếc khay trên bàn đầu giường đã vơi đi hơn nửa, chàng hơi thở dốc, âu yếm nhìn thoáng qua Vĩnh Nhi rồi nhẹ giọng nói: "Ta quả thật không phải là một người cha tốt."
Một cảm giác sợ hãi chưa từng có xâm chiếm đại não, nàng đột ngột nắm lấy tay chàng, ngu ngơ nói: "Vương gia, đừng mà, đừng như vậy."
Chàng khẽ cười nhưng mặt đã không còn chút máu, hốc mắt lõm sâu, gầy gò đến cực hạn.
"Vương gia, đừng như vậy." Không biết có thể nói gì khác, nàng chỉ ra sức lắc đầu, nắm chặt cổ tay phu quân mình, liên tục lặp đi lặp lại câu: "Đừng mà, đừng như vậy."
Gió đêm đẩy cửa sổ ra luồn vào phòng, mấy bận đã suýt thổi tắt nến, mang theo hơi lạnh từ phương bắc, thoang thoảng hương cúc thơm ngát.
Nàng mơ hồ nhớ lại lúc còn trẻ từng ngồi vui đùa với các tỷ tỷ, mấy tỷ muội cùng chia sẻ tưởng tượng về vị hôn phu tương lai, có trạng nguyên thi văn không ai sánh bằng, có đại tướng quân võ nghệ bất phàm, có con cháu thế gia xuất thân cao quý. Chỉ mình nàng là sau một hồi ngẫm nghĩ rất lâu, bị các tỷ tỷ dồn ép mới ấp úng nói: "Chỉ cần... chỉ cần đối tốt với muội là được."
Chỉ cần tốt với nàng là được.
Nàng vẫn luôn như thế, ngay cả tỷ tỷ ruột cũng ghét bỏ vì nàng không có chí lớn. Nhưng an phận như thế thì sao, nàng sẽ không phải khó chịu sầu khổ, không phải than trời trách đất vì ý nguyện chẳng thành. Nguyện vọng của nàng đơn giản nên sẽ dễ thực hiện, cuộc sống của nàng đơn điệu nhưng sẽ bình yên.
Nhưng trong khoảnh khắc đó, nàng chợt không muốn tiếp tục an phận, không muốn tiếp tục cuộc sống như thế nữa.
Nàng nắm chặt tay chàng, run rẩy nói: "Vương gia, lão vương gia đã qua đời rồi, vương gia hãy bỏ thiếp đi. Thiếp biết vương gia không thích thiếp, trong lòng vương gia có người khác. Thiếp bây giờ không cần gì khác, thiếp chỉ cần vương gia sống, chỉ cần vương gia sống, vương gia có bỏ thiếp cũng không sao."
Khoảnh khắc đó, mưa gió bên ngoài như chợt ngừng hẳn, vị tướng quân kinh qua vô số sa trường sững người trước ánh mắt vô cùng kiên định của cô gái luôn lặng lẽ ít nói trước mặt. Đáy lòng dâng lên cảm giác chua xót, sự cố chấp nhiều năm chợt hóa thành bụi bay theo gió. Năm tháng tựa dòng nước chảy xiết, đủ cuốn phăng mọi chấp niệm cứng đầu nhất.
Ngay ở thời điểm cuối cùng của cuộc sống, tất cả áy náy đều dồn nén thành một tiếng thở dài. Thành thân đã nhiều năm, nhưng lần đầu tiên chàng ôm lấy nàng, nhỏ giọng xin lỗi: "Ngọc Thụ, là ta đã phụ nàng."
Nằm trong lòng chàng, cảm giác ấm áp xa lạ khiến nàng thoáng ngây người.
Nhiều năm sống lặng lẽ, nhiều năm tự kiềm nén, nhiều năm tự an ủi, nhiều năm tự lừa mình dối người, nàng vẫn cho rằng mình đã đủ hiền thục, vẫn cho rằng mình là một người vợ tuân thủ phép tắc, vẫn cho rằng thật ra nàng cũng không thương tâm cho lắm.
Nhưng cuối cùng tất cả ý niệm đó đều hoàn toàn sụp đổ chỉ bởi một câu nói đơn giản này, chỉ bởi một cái ôm đơn giản như vậy.
Thì ra không phải nàng không cảm thấy uất ức, thì ra không phải nàng không thất vọng, thì ra không phải nàng không có ước vọng cùng ảo tưởng.
Nàng chỉ che giấu và đè nén chúng quá kỹ mà thôi.
Trong vòng tay của chàng, nàng đã bật khóc nức nở, khóc đến khàn giọng.
Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng nàng vùi mặt vào lòng phu quân khóc ròng.
Sau khi nói ra câu kia, chàng qua đời, vô cùng nhẹ nhàng, vẻ mặt bình thản như một bức tranh thủy mặc.
Sang ngày thứ hai, được tin Huyền vương gia qua đời, Yến hoàng vốn đã chuẩn bị rời đi lập tức đổi hướng, chạy thẳng đến Huyền vương phủ. Vị đế vương trẻ tuổi lạnh lùng mặc hoàng bào đen tuyền, đứng sững ra như tượng đá một lúc lâu trước linh cữu của chàng. Tất cả mọi người quanh bàn lễ tế đều bị dọa đến không dám phát ra tiếng động nào.
Sau khi chàng mất, chiếu chỉ sắc phong và ban thưởng liên tiếp tràn vào phủ. Nhưng những thứ đó đã không còn quan hệ gì đến nàng, tim nàng đã chết, cho dù toàn bộ hoa hồng trên thế gian nở rộ thì trong mắt nàng cũng chỉ là một khoảng đất trống hoang vu mà thôi.
Phiên Ngoại 5: Lễ Tế
Cỗ xe ngựa chậm rãi lăn bánh trên con phố phồn hoa, xuyên qua đám đông náo nhiệt, ra khỏi cổng thành Chân Hoàng, tiến về phía đông nam. Tiếng phố xá ồn ào dần xa, chỉ còn lại khung cảnh trời rộng núi cao, cỏ xanh lay động, thỉnh thoảng có đàn nhạn bay ngang phát ra tiếng kêu não lòng.
Vĩnh Nhi tựa người trong lòng Ngọc Thụ ngủ gà gật, nhờ có rèm cửa bằng bông dày nên trong xe rất ấm. Ngọc Thụ ôm con trai, nhè nhẹ vỗ vỗ lưng cậu bé, miệng khẽ ngâm nga mấy câu đồng dao. Thời gian trôi qua rất chậm, khiến con đường dường như dài hẳn ra.
"Vương phi, phía trước có một quán trà, có cần xuống nghỉ chân một hồi không?" Khương Ngô mặc y phục da chồn nâu dẫn dắt nhóm hộ vệ đi theo cạnh xe ngựa, vừa xoa xoa hai bàn tay với nhau, vừa đi đến hỏi.
Rèm cửa sổ hơi lay động khiến gió lạnh ùa vào mặt, Ngọc Thụ hơi nhíu mày, ngước lên nhìn trời rồi nói: "Vẫn tiếp tục lên đường thì hơn, ta thấy trời dường như sắp đổ tuyết rồi, tránh để bị tuyết làm lỡ lộ trình."
Khương Ngô 'dạ' một tiếng rồi lại nói ngay: "Nơi này đúng là lạnh thật, nếu là ở Hoài Tống thì bây giờ hoa sen vẫn còn chưa tàn hết nữa là."
"Mẫu phi?" Vĩnh Nhi dụi dụi mắt, mặt hồng hồng vì ngái ngủ, gió lạnh khiến cậu bé tỉnh táo đôi chút, khịt mũi hỏi nhỏ: "Đã đến chưa ạ?"
Ngọc Thủ thoáng nhìn ra bên ngoài rồi gật đầu nói với cậu bé: "Cũng sắp rồi, con trai."
Cả đời này của Ngọc Thụ cũng chẳng đi được mấy nơi, chuyến đi đầu tiên chính là từ Hoài Tống băng qua quãng đường vạn dặm đến thẳng thành Chân Hoàng, rời khỏi quê hương đi đến nơi lạnh lẽo xa lạ như này.
Tình cảnh khi ấy, nói dễ nghe thì là Hoài Tống theo thiên mệnh quy thuận Đại Yến, trở thành chư hầu. Nhưng ai cũng biết, hoàng tộc Hoài Tống ngoại trừ Trưởng công chúa Nạp Lan Hồng Diệp thì cũng chỉ còn lại vài phi tần của tiên hoàng và một tiểu hoàng đế sống dở chết dở, hương khói dòng họ vốn đã không thể tiếp tục kéo dài. Chức vị chư hầu này cũng chỉ là ngoài mặt mà thôi. Sau khi Trưởng công chúa trăm tuổi, chủ nhân Hoài Tống sẽ không tránh khỏi đổi thành họ 'Yến'.
Nhưng có được kết quả thế này cũng đã rất tốt rồi.
Năm đó, trong ba cường quốc trên đại lục, Hoài Tống là nước có diện tích nhỏ nhất, thậm chí còn không bằng một phần mười Đại Hạ. Tuy có lợi thế gần biển và giao thương phát triển, nhưng Hoài Tống lại không có mỏ sắt, thiếu thốn ngựa chiến và trang bị vũ khí, so về thực lực quân sự thì thua kém hai nước còn lại. Nhờ Biện Đường và Đại Hạ luôn cầm chân lẫn nhau nên Hoài Tống mới có thể đứng vững không đổ suốt cả trăm năm qua như vậy. Nhưng một khi cán cân giữa Đại Hạ và Biện Đường xuất hiện chênh lệch, bên chiến thắng chắc chắn sẽ khai đao với Hoài Tống trước tiên.
Năm ấy, Hoài Tống xảy ra lục đục nội bộ, lãnh thổ Biện Đường phân hai, Đại Hạ cũng chia năm xẻ bảy, ba cường quốc không ngừng xảy ra nội chiến. Thiết kỵ Bắc Yến đã nhân cơ hội ra khỏi biên giới, càn quét khắp đại lục. Đứng trước tình hình đó, một là hoàn toàn không có khả năng duy trì thế chân vạc, hai là không có binh lực đánh thắng quân đội của nước khác, ba là không thể ổn định chính quyền nội bộ, ngoại trừ dựa vào Bắc Yến, Hoài Tống thật sự không có lựa chọn thứ hai.
Thực tế cũng đã chứng minh sách lược của Trưởng công chúa là đúng đắn. Tuy nói là trở thành thuộc quốc, nhưng người dân và quan viên Hoài Tống không hề bị liên lụy bởi chiến tranh, hoàng thất cũng không bị sát hại, trọng thần của Hoài Tống lại được tân triều trọng dụng, không hề bị đối xử giống tầng lớp di dân thấp kém như thời Đại Hạ.
Dân chúng lại càng chẳng kể ai làm hoàng đế, chỉ cần có cơm ăn áo mặc, có đất trồng trọt thì sẽ không ai rỗi hơi để bụng chuyện thiên tử của mình họ Yến hay họ Nạp Lan.
Song cũng vẫn có vài người không thể tiếp nhận chuyện này.
Ngọc Thụ còn nhớ ngày bọn họ rời khỏi Hoài Tống có rất nhiều thư sinh học giả chạy đến ngán đường đoàn xe, bất kể binh lính quát đuổi thế nào cũng không sợ hãi. Thậm chí còn có người tưới dầu lên mình rồi tự thiêu.
Tình cảnh hỗn loạn khủng khiếp khi ấy đến giờ vẫn còn in rõ trong đầu Ngọc Thụ, trong ánh lửa bùng lên, người nọ vừa la hét vừa hô tên Huyền vương. Những người khác cũng quỳ rạp trên đất gào khóc nức nở, nói rằng nếu Huyền vương còn sống thì tuyệt sẽ không để phụ nữ và trẻ con không hiểu chuyện chắp tay dâng giang sơn cho kẻ khác như vậy.
Chớp mắt mà đã qua nhiều năm như vậy, dưới sự cai trị của Đại Yến, những âm thanh ca thán kia hiện giờ đã dần mất đi, và nam nhân từng được dân chúng Đại Tống coi là cứu tinh cũng càng ngày càng ít được nhắc đến. Ngay cả ngày giỗ của chàng, bây giờ cũng chỉ còn cô nhi quả phụ như mẹ con nàng nhớ đến, mới có thể sớm tinh mơ đã rời thành đi quãng đường vài chục dặm cúng tế.
Sau nửa ngày ngồi xe cuối cùng cũng tới được núi Yến Tây. Ngọn núi này có địa thế dốc đứng nên xe ngựa không thể lên được, Ngọc Thụ dắt Vĩnh Nhi xuống xe, ngồi kiệu êm do hạ nhân khiêng, chậm rãi băng qua từng bậc thềm đá lên núi.
Vì tuyết đọng rất dày nên hạ nhân khiêng kiệu đi vô cùng chậm. Vĩnh Nhi hiện tại đã tỉnh ngủ, nên rất hăng hái vén màn kiệu thò đầu nhìn ra ngoài.
Giữa sườn núi tọa lạc một ngôi chùa nhỏ thoạt nhìn rất cổ xưa, lần trước lên núi Ngọc Thụ từng dừng lại đây nghỉ chân một lát, biết được bên trong chỉ có hơn mười vị hòa thượng, và phần lớn đều đã rất già. Bởi nằm ở vị trí hẻo lánh nên ngôi chùa này có rất ít khách hành hương, cổng và sân chùa đóng đầy tuyết cũng không ai quét dọn.
Nàng ghé mắt qua cửa sổ nhìn ra ngoài, quang cảnh rừng thông xanh ngắt khiến trong lòng nàng dấy lên một nỗi bi thương khó tả.
Lại một năm nữa trôi qua.
"Vương phi, chúng ta đến rồi. Phía trước đường rất hẹp nên không thể dùng kiệu."
Ngọc Thụ gật đầu, dắt Vĩnh Nhi xuống kiệu, dặn các hộ vệ khác chờ ở đây, chỉ dẫn theo Khương Ngô mang tiền vàng giấy bạc cùng Vĩnh Nhi tiếp tục đi lên núi.
Càng lên cao gió càng lớn, thổi lên mặt cảm giác ran rát, nàng ở phía trước cản gió cho Vĩnh Nhi, chậm rãi đi từng bước một. Bỗng nhiên, bên tai chợt xẹt qua luồng gió cực mạnh, từ trong rừng xuất một bóng đen lao đến nhanh như tia chớp. Khương Ngô lập tức rút kiếm đứng chắn trước người Ngọc Thụ, nhưng kiếm còn chưa rời khỏi vỏ thì trên cổ đã bị hai lưỡi kiếm khác kề ngang.
"Là ai?" Đối phương quát khẽ.
Ngọc Thụ tái mặt, vội vàng đưa tay che mắt Vĩnh Nhi, nhưng không ngờ Vĩnh Nhi lại hết sức can đảm, vừa kéo tay mẫu thân ra, vừa thẳng thắng đường hoàng nói to: "Ta là thế tử Huyền phương phủ, đây là mẫu phi của ta, hai người chúng ta đang trên đường đi bái tế phụ vương. Các ngươi là ai? Cường đạo? Không sợ bị chém đầu sao?"
Tiếng trẻ con trong trẻo như tiếng ngọc châu rơi trên khay, hòa lẫn trong tiếng gió vù vù trên núi cao. Ngọc Thụ sợ hãi kéo Vĩnh Nhi sát vào lòng mình, ôm cậu bé thật chặt.
Những người kia nhìn nhau một cái rồi lập tức thu kiếm, người cầm đầu tiến lên một bước, cung kính cúi đầu nói: "Thì ra là Huyền vương phi và thế tử điện hạ. Đã thất lễ, kính xin vương phi chờ ở đây một lát." Nói xong liền rời đi.
Rất nhanh sau đó, người nọ đã trở lại, lễ phép nói với Ngọc Thụ: "Mời vương phi."
Ngọc Thụ nghi ngờ nhìn bọn họ, Khương Ngô dường như hiểu ra gì đó nhưng lại không dám nhiều lời, chỉ nhẹ gật đầu với Ngọc Thụ trấn an nàng.
Khoảng sân trong lăng được lót bằng đá cẩm thạch bóng nhẵn, từ xa nhìn lại tựa như một mặt gương khổng lồ. Hôm nay bầu trời như gần đến mức đưa tay liền có thể chạm vào mây, không gian lộng gió khiến vạt áo tung bay phần phật, gió cuộn tuyết như bao phủ không trung bằng một màn sương dày dặc.
Ngọc Thụ nheo mắt nhìn ra phía trước, đứng lẫn trong gió tuyết là một bóng dáng mặc y phục tuyền đen, mũ trùm kín đầu. Gió tuyết thổi qua khe núi phát ra tiếng vọng *u u*, tuyết trắng quấn quít trên thân người nọ như ngăn cách y với vạn vật xung quanh. Bóng lưng đơn độc nhưng cao lớn thẳng tắp, tựa như một cột trụ vững chãi có thể chống đỡ cả trời đất.
Tuy không nhìn rõ mặt nhưng Ngọc Thụ vẫn kéo Vĩnh Nhi quỳ xuống trước tiên, nói bằng giọng không cao không thấp: "Tham kiến hoàng thượng."
Yến Tuân xoay đầu lại, ánh mắt vốn lạnh lùng như băng tuyết nhìn thấy Ngọc Thụ thì thoáng hơi dịu lại, môi nhẹ mỉm cười, nụ cười hơi cứng ngắc, không rõ là vì trời quá lạnh hay bởi vì đã quá lâu không cười nên không nhớ được phải làm thế nào.
Hắn lẳng lặng gật đầu, nói: "Đã đến rồi à?"
Không được cho phép đứng dậy nên Ngọc Thụ vẫn quỳ đó, tim đập *thình thịch* vì căng thẳng, chỉ dám 'vâng' một tiếng hồi đáp.
"Đứng lên đi, trước mặt Huyền Mặc, đừng để hắn trách trẫm ức hiếp vợ hắn."
Lời lẽ hết sức tùy ý nhưng Ngọc Thụ nghe thấy lại nhũn chân. Nàng cuống quít gật đầu rồi đứng dậy, kéo Vĩnh Nhi lên cùng đứng sau lưng Yến Tuân cách khoảng mười bước chân. Hàng nhang đèn trước linh án của Huyền Mặc lặng lẽ cháy, mùi hương trầm quanh quẩn, tro giấy tiền vàng bạc bay lả tả trong không trung như một đàn phù du đen.Yến Tuân không nói gì, chỉ lẳng lặng thối lui nhường lại một khoảng trống trước linh án. Ngọc Thụ thấp thỏm dẫn con trai tiến lên, nhang thơm cùng tiền giấy vàng chận rãi bị ngọn lửa cắn nuốt rồi biến thành tro xám. Ánh lửa khiến gò má tái nhợt dần hồng lên, các ngón tay lạnh cóng từ từ ấm lại nhưng Ngọc Thụ vẫn duy trì tư thế cứng ngắc, từng tờ tiền giấy chậm rãi được bỏ vào trong chậu lửa.
"Phụ vương, Vĩnh Nhi đến thăm người đây." Vĩnh Nhi ngoan ngoãn quỳ trên mặt đất, nghiêm chỉnh dập đầu ba cái rồi nói: "Năm nay kết quả học tập của Vĩnh Nhi rất tốt, được Lục tiên sinh khen ngợi những ba lần. Vĩnh Nhi học được rất nhiều chữ, cũng bắt đầu học cưỡi ngựa nữa rồi rồi, Khương thúc tặng con một con ngựa nhỏ màu đen trên mũi có nhúm lông trắng, nhìn rất đẹp."
Cậu bé nói liên tục một hơi, lời lẽ ngây thơ, giọng điệu non nớt nhưng sắc mặt lại hết sức nghiêm túc, đôi lông mày nhỏ thậm chí còn hơi nhíu, nhìn vô cùng đáng yêu.
"Phụ vương, trời trở lạnh rồi, người nhớ mặc nhiều vào, Vĩnh Nhi và mẫu phi có đốt cho người áo bông đấy. Người ở đây có một mình thì phải biết tự chăm sóc bản thân, đừng để ngã bệnh. Vĩnh Nhi sẽ thay phụ vương chăm sóc mẫu phi, người cứ yên tâm."
Gió núi chợt thổi mạnh hơn, Ngọc Thụ quay đầu đi, hốc mắt cay xè.
"Mẫu phi? Người sao vậy?"
Ngọc Thụ gượng cười, đáp lời: "Không có gì, bị gió thổi rát mắt thôi."
Vừa dứt lời thì chợt thấy gió đã dịu đi rất nhiều, Ngọc Thụ khó hiểu ngước lên nhìn thì thấy một bóng lưng cao ngất đang đứng ở đầu ngọn gió, vừa vặn chắn trước người hai mẹ con họ. Phía trước là vách đá cheo leo, vạt áo người nọ bị gió thổi tung, bay phấp phới cùng với bông tuyết. Người nọ tuy đứng rất gần nhưng lại như xa ngàn dặm, vĩnh viễn khiến người khác không dám đến gần.
"Mẫu phi? Mẫu phi? Người sao vậy?" Vĩnh Nhi thấy nàng ngây người thì sốt ruột hỏi.
Ngọc Thụ tự biết bản thân đã luống cuống, nhanh chóng quay đầu lại nói: "Không có gì, Vĩnh Nhi, mau dập đầu với phụ vương đi."
Cậu bé mở to mắt, phụng phịu đáp: "Đã dập đầu xong từ lâu rồi ạ."
Ngọc Thụ gật đầu, bỏ nốt xấp tiền vàng cuối cùng vào chậu lửa, sau đó cũng xá ba lạy rồi đứng dậy.
"Xong chưa?" Một giọng nói trầm thấp vang lên, Ngọc Thụ cụp mi, vội vàng gật đầu, người nọ lại nói tiếp: "Vậy thì cùng đi đi."
Ngọc Thụ nào dám phản đối, lại thành thật gật đầu đồng ý.
Yến Tuân tiến lên dắt tay Vĩnh Nhi, mỉm cười hỏi: "Vĩnh Nhi đã biết cưỡi ngựa rồi à?"
Hơn mười hộ vệ tiến đến, người thì thu dọn vật dụng lễ tế, người thì đứng hai bên trái phải canh phòng.
Vĩnh Nhi mỗi ngày đều ra vào hoàng cung, cộng thêm trước giờ được Yến Tuân đối xử rất hòa nhã nên cậu bé không hề sợ hãi nắm tay nam nhân quyền thế nhất thiên hạ này, ngước lên tươi cười đáp lời: "Vâng ạ, là được Khương thúc dạy, nhưng bây giờ Vĩnh Nhi còn quá nhỏ nên không được cưỡi ngựa lớn, chỉ có thể cưỡi ngựa con thôi ạ."
Yến Tuân bật cười, "Phụ vương ngươi lúc bằng tuổi ngươi không hề biết cưỡi ngựa, xem như ngươi lợi hại hơn phụ vương rồi."
"Thật thế ạ?" Vĩnh Nhi sửng sốt, tròn mắt hỏi: "Phụ vương ngốc vậy sao?"
Yến Tuân nghe vậy thì càng cười to hơn, "Phụ vương của ngươi thứ khác đều giỏi, tinh thông thi từ, tri thức uyên thâm, chỉ mỗi cái là không biết cưỡi ngựa, về sau cưỡi được là do do trẫm dạy đấy."
"Woah, vậy hoàng thượng chẳng phải coi như là thầy của phụ vương rồi sao? Hoàng thượng có thể dạy Vĩnh Nhi không? Vĩnh Nhi muốn cưỡi ngựa to cơ, không muốn cưỡi ngựa nhỏ nữa. Con ngựa nhỏ Khương thúc tặng lười lắm, chạy cũng không thèm chạy, chỉ biết đi từng bước thôi."
"Ngươi còn quá nhỏ, chưa thể học cưỡi ngựa to được. Có điều trẫm có thể dạy ngươi thứ khác."
"Hoàng thượng còn biết gì nữa? Có biết đá dế không?"
Yến Tuân thản nhiên cười đáp: "Trẫm biết còn nhiều hơn thế."
"Hoàng thượng chớ nói khoác, con đại tướng quân đầu đỏ Vĩnh Nhi nuôi là vô địch khắp hoàng cung đấy, ngay cả con vương đô đầu xanh rất khỏe của Nhị hoàng tử cũng bị nó vặt gãy chân."
Trên con đường nhỏ hẹp, hai người một thấp một cao đi trước, vừa đi vừa vui vẻ nói chuyện. Gió tuyết may mịt mù xung quanh như không thể tiến vào thế giới của bọn họ.
Ngọc Thụ đi theo sau, thất thần nhìn bóng lưng hai người, mơ màng thầm nghĩ, nếu vương gia của nàng vẫn còn sống, có lẽ sẽ cũng như thế này, khi rảnh rỗi có lẽ sẽ dẫn Vĩnh Nhi ra ngoài dạo chơi, kể lại chuyện lúc còn bé, sau đó không biết ngượng khoác loác rằng bản thân hồi trẻ thông minh quảng đại thế nào.
Nàng đột nhiên cảm thấy hơi thương tâm, tuy bản thân vốn đơn thuần, chỉ tâm tâm niệm niệm việc chăm sóc phu quân và nuôi dạy con, nhưng không có nghĩa là nàng hoàn toàn vô tri vô giác đối với chuyện bên ngoài.
Mấy năm này, nhất là hai năm vừa qua, các hoàng tử lần lượt ra đời, nhưng đến nay vẫn chưa từng nghe nói hoàng thượng đặc biệt yêu thương người nào. Trong tiềm thức, Ngọc Thụ cũng hiểu được, Đại Yến chỉ mới được thành lập, chính quyền vẫn còn chưa vững, phía bắc vẫn còn rải rác các cuộc chiến quy mô nhỏ, hơn nữa trước khi hoàng hậu nhập cung, hoàng đế đã hứa rằng người thừa kế Đại Yến nhất định phải là con do hoàng hậu sinh. Vì vậy, một khi hoàng hậu vẫn chưa hoài thai thì hoàng thượng sẽ không thân cận quá mức với bất kỳ đứa con nào, tránh khiến cho triều đình xào xáo không yên. Dù sao đi nữa thì hiện giờ cựu thần Hoài Tống cũng đã có một thế lực nhất định trên triều.
Nét mặt ôn hòa đó của hoàng thượng, e ngay cả con trai ruột cũng chưa từng thấy qua.
Ngọc Thụ thở ra một hơi thật dài. Một đàn chim bay ra từ rừng cây, đập cánh kêu *phành phạch*, nàng ngẩng đầu nhìn lên trời, gió thổi lên mặt, lạnh lẽo như băng.
Phía trước vọng lại tiếng cười, âm thanh nghe vô cùng vui vẻ.
Cách đó rất xa, sâu bên trong hoàng cung tĩnh mịch, Nạp Lan Hồng Diệp thả từng dải lụa trắng vào trong chậu lửa, lẳng lặng nhìn dải lụa bị ngọn lửa cắn nuốt rồi hóa thành tro đen. Trong một thoáng, nàng như nghe được phía đông nam có gió thổi đến, lẫn trong tiếng gió là âm thanh quen thuộc, quanh quẩn bên tai mãi không đi.
Thâm cung vắng vẻ, nàng mặc bộ cung trang hoa lệ, từng tầng vải gấm ôm lấy người nàng, như cũng bao lấy mọi hỉ nộ ai lạc, biến chúng thành những hoa văn không sự sống trên lớp vải cứng ngắc. Sống lưng thẳng thắp, trang dung tỉ mỉ, tất cả cung nhân đều đứng ở xa, không một ai dám ngẩng đầu lên nhìn nàng dù chỉ một cái. Nàng vẫn là người phụ nữ cao quý kia, là người nắm giữ thực quyền của Hoài Tống, là hoàng hậu của Đại Yến, là vị công chúa cuối cùng của Nạp Lan thị, song chẳng ai biết, hai vai nàng đã mệt mỏi lắm rồi.
Ánh mặt trời chiếu lên người nàng, trong không trung mơ hồ lộ ra bụi tro rất nhỏ. Tất cả đều đổi khác, nhưng nàng vẫn chỉ có một mình, trong không gian tĩnh mịch này, thời gian dường như kéo dài đến vô tận.
"Lại một năm nữa trôi qua." Nàng khẽ cười, nụ cười mơ hồ như sương khói, nhẹ nhàng tan biến trong bầu không gian cuối thu lất phất tuyết.
Phiên Ngoại 6: Hoa Lê
Gió *rì rào* bên ngoài cửa sổ, đại điện trống trải chỉ có rèm lụa lay động. Chúng thái y đến thăm mạch vừa lui ra thì Vân cô cô đã tiến lên cúi mình với Nạp Lan Hồng Diệp đang mặc loan phục nhất phẩm đoan trang ngồi trên ghế, hành lễ xong cũng không đứng dậy.
Nạp Lan Hồng Diệp nhìn thấy thì cười khổ, hỏi: "Vân cô cô làm gì vậy?"
Vân cô cô năm nay đã rất lớn tuổi, tóc đã gần bạc hết, mặt đầy nếp nhăn, nhưng đôi mắt mờ đục hôm nay lại sáng ngời. Bà ngẩng đầu lên nhìn Nạp Lan Hồng Diệp, trầm giọng nói: "Hoàng thượng vừa đi đến núi Yến Tây rồi ạ."
Nạp Lan Hồng Diệp không đáp lời, chỉ lẳng lặng cười một tiếng rồi nói: "Huyền vương có công to với giang sơn xã tắc, được hoàng thượng nhớ thương, đây chẳng phải là chuyện tốt sao?"
Trong đại diện yên tĩnh đến mức có thể nghe được tiếng gió thổi qua hành lang ở xa xa, Vân cô cô vẫn quỳ trên mặt đất, im lặng nhìn Nạp Lan Hồng Diệp, không nói lời nào, ánh mắt không tính là quá nghiêm nghị nhưng lại vô cùng sắc bén, như muốn lột trần tất cả lớp ngụy trang trên người nàng.
Nạp Lan Hồng Diệp bất đắc dĩ thở dài, cười khổ nói: "Cô cô muốn thế nào? Ta bây giờ rất tốt, hoàng thượng không hề ruồng bỏ lời hứa ban đầu, cần gì gây ra thêm chuyện chứ?"
"Nhưng hoàng thượng hận ngài!" Vân cô cô đột nhiên trở nên kích động, "Hoàng thượng hận ngài chiếm đoạt binh quyền của Huyền vương, hận ngài rút bớt quân đội bên cạnh Huyền vương, hận ngài điều Huyền vương đến Đông Hải, hận ngài giữ lại bức thư cuối cùng Huyền vương viết cho hoàng thượng. Hoàng thượng cho rằng Huyền vương mới là nghĩa đệ của mình. Đã nhiều năm như vậy, nỗi hận của hoàng thượng đã sớm sâu tận tâm can, chẳng lẽ ngài còn không rõ?"
"Đúng, chàng hận ta." Nạp Lan Hồng Diệp nhẹ mỉm cười, trong lời nói mang theo chút vui vẻ, "Cô cô nhìn đi, chàng không phải là người vô tình, chàng đối xử với nghĩa đệ thật tốt."
"Công chúa!" Vân cô cô cuối cùng cũng lộ vẻ giận dữ, chống gậy đứng dậy, tức đến xanh mặt.
Nạp Lan Hồng Diệp ho khẽ hai tiếng rồi bất đắc dĩ thở dài, "Cô cô đã lớn tuổi rồi, sao còn nóng nảy như vậy?"
Vân cô cô không đáp lời, chỉ nhìn Nạp Lan Hồng Diệp chăm chăm. Trên mặt nàng vẫn giữ nụ cười mỉm, nhưng nụ cười kia lại ẩn giấu chút khổ sở không nói thành lời.
"Cô cô muốn ta làm sao? Đánh cuộc nói thật với hoàng thượng cầu mong một chút đoái hoài? Cô cô cho rằng Hồng Diệp là ai, đất nước đã không còn, ngay cả chút tôn nghiêm cuối cùng cũng không giữ được sao?"
Vân cô cô chợt ngây người, ánh nến trên đại điện hắt lên khuôn mặt già nua, tô rõ vẻ tang thương bất lực.
"Ta không thể sống chỉ vì bản thân, sau lưng ta còn có vô số hoàng thất. Tôn vị hoàng hậu còn đó, tình cảm dành cho Huyền Mặc còn đó thì các cựu thần Hoài Tống mới có cuộc sống yên ổn."
Vân cô cô cau mày, cố tranh luận: "Hoàng thượng biết chân tướng rồi thì cũng sẽ đối xử tốt với ngài, có gì khác đâu."
"Không giống." Nạp Lan Hồng Diệp xoay đầu lại, khóe môi nhoẻn một nụ cười yếu ớt, "Rất khác, cô cô có biết không."
Huân hương lượn lờ trong không trung, đêm đã khuya, tầng tầng màn lụa khiến đại điện càng thêm tĩnh mịch. Nàng lại quay đầu đi, chậm rãi đi từng bước vào nội điện, "Tình cảm chàng dành cho Huyền Mặc vốn là tình thân, và cũng chỉ có thể là tình thân mà thôi. Một khi huynh đệ biến thành thê tử, tình cảm này sẽ biến mất."
Cánh cửa sơn son thếp vàng chậm rãi mở ra, bên trong không một bóng người, sống lưng Nạp Lan Hồng Diệp vẫn thẳng tắp, loan phục vàng rực rỡ đứng giữa cung điện nguy nga càng thêm lộng lẫy. Các ngón tay nắm chặt rồi lại mở ra, tựa như vừa buông bỏ gì đó, vừa thừa nhận chuyện gì.
Nói cho chàng biết thì sẽ thế nào? Chàng vẫn không yêu mi, chỉ có mi chịu thiệt mà thôi. Nạp Lan Hồng Diệp thì thầm trong đáy lòng.
Thì ra thừa nhận sự thật lại đơn giản đến như vậy.
Nàng được xưng tụng huệ chất lan tâm, thông minh cơ trí hiếm gặp, có thể thao túng triều đình, chơi đùa lòng người. Nàng biết được phải làm sao lấy được lợi ích tốt nhất. Nàng một mực che giấu không nói ra, chỉ bởi vì nàng biết rất rõ, cho dù phơi bày sự thật khắp toàn thiên hạ thì nàng cũng không cách gì có được ánh mắt và trái tim của chàng.
Thay vì nhận được chút cảm kích và áy náy rồi vẫn phải tiếp tục mệt mỏi tranh đoạt với các hậu phi, nàng thà rằng để sự thật bị chôn vùi, tha cho chàng cũng như cho bản thân mình một con đường sống.
Nàng đã sớm hiểu rõ, nếu hỏi trên đời này có thứ gì không thể miễn cưỡng, ngay cả quyền lực hay tiền bạc cũng không thể thì đó chính là lòng người. Như tình cảm Huyền Mặc đối với nàng, cũng như nàng đối với Yến Tuân, một khi sa chân vào thì sẽ không đường thoát ra.
"Công chúa! Muốn che chở cho cựu thần Hoài Tống thì điều quan trọng nhất chính là sinh hạ hoàng tử. Nhưng năm năm rồi, đã năm năm rồi!"
Cửa nội điện chậm rãi khép lại, cắt ngang âm thanh xúc động của Vân cô cô. Văn Viện đã dẫn hạ nhân lui xuống, nội điện chỉ còn lại mình nàng. Nàng từ tốn đến ngồi xuống bên bàn, nhẹ nhàng rót cho mình chén nước, trong bình chính là nước thuốc đen nhánh. Nàng cũng không ngại đắng, thản nhiên uống cạn. Nước thuốc còn nóng, gặp khí lạnh thì bốc khói nhè nhẹ. Thành chén bằng ngọc khắc hoa lan tinh xảo, rất trơn bóng nhưng lại rất lạnh, tựa như cảm xúc khi ngón tay nàng chạm vào da thịt chàng ở đêm tân hôn, lạnh lẽo như băng.
"Chỉ có là nghĩa đệ ngồi ngang hàng thì ta mới không phải là một trong ba ngàn giai nhân của chàng, ta mới vẫn là Trưởng công chúa Hoài Tống, vẫn còn là Nạp Lan Hồng Diệp." Tiếng thì thầm quanh quẩn trong nội điện yên tĩnh, nàng mở to mắt, hai hàng nước mắt lặng lẽ chảy xuống, lăn dài trên gò má gầy rồi rơi xuống cổ tay, lạnh như băng.
Cứ như vậy, nàng đã ngồi suốt đêm.
Sang ngày thứ hai, trong cung truyền ra tin nhũ mẫu của hoàng hậu Đại Yến bị bệnh qua đời. Yến Tuân tự mình hạ chỉ phong Vân cô cô làm Khang Lộc phu nhân, hưởng thụ bổng lộc của quan tam phẩm. Vân cô cô cả đời chưa từng xuất giá, không có con cái nên tất cả ban thưởng đều do mẫu tộc ở Hoài Tống nhận, tang lễ được cử hành vô cùng trọng thể.
Ngày đưa tang của Vân cô cô, Nạp Lan Hồng Diệp đứng trên lầu Vọng Lâu ở phía tây hoàng thành, trên người mặc loan phục đen tuyền, đầu đội mũ phượng, lẳng lặng nhìn đội ngũ đưa linh cửu chậm rãi rời khỏi thành, đi về phía nam.
Người chết về quê, lá rụng về cội, năm năm trước, Vân cô cô theo Nạp Lan Hồng Diệp rời khỏi quê hương, băng qua quãng đường xa xôi vạn dặm đi đến vùng đất luôn chìm trong băng tuyết này. Hôm nay công chúa của bà đã trưởng thành, không còn là đứa trẻ từng vùi vào lòng bà khóc ngất, bà cuối cùng đã có thể buông tay mà đi.
Hôm đó trời lại đổ tuyết. Cung nhân phủ thêm áo lông thật dày nhưng Nạp Lan Hồng Diệp vẫn cảm thấy lạnh đến cực cùng. Mặt nàng trắng xanh, thân hình gầy gò đứng trên lầu cao tựa như một pho tượng bằng băng.
Phụ hoàng đi rồi, Hồng Dục đi rồi, Huyền Mặc đi rồi, giờ cả Vân cô cô cũng đi rồi.
Người nàng yêu thương đều lần lượt rời đi, cuối cùng chỉ còn một mình nàng ở tại nơi xa cách quê hương vạn dặm này, xa đến mức ngay cả nàng cũng không thể nhớ cảm giác ấm áp cùng mùi biển nồng nàn nữa rồi.
Muốn khóc mà mắt vẫn cạn khô, ngực chợt nhói đau, cổ họng ngòn ngọt như có chất lỏng muốn trào ra nhưng Nạp Lan Hồng Diệp vẫn lẳng lặng đứng đón gió. Mãi đến khi vạt áo lông trắng tinh trước ngực trở nên đỏ sẫm, đến khi Văn Viện kinh hãi thét to, đến khi khoảng trời trước mắt chợt tối sầm đi thì nàng mới ngã quỵ. Trong lúc mơ hồ, nàng như lại nhìn thấy khuôn mặt khi còn trẻ của Vân cô cô đang dịu dàng nhìn nàng, miệng khẽ gọi nhũ danh của nàng.
Sau khi Vân cô cô qua đời, Nạp Lan Hồng Diệp liền giống như một đóa bách hợp tàn úa, càng ngày càng suy yếu.
Trời càng lúc càng lạnh, bão tuyết càn quét khắp nơi. Mỗi ngày điện Đông Nam đều có chúng thái y ra ra vào vào như thoi đưa, các loại dược liệu quý giá chảy vào điện như nước nhưng bệnh trạng của Nạp Lan Hồng Diệp vẫn không có dấu hiệu khởi sắc.
Đến trưa hôm nay thì bão tuyết cuối cùng cũng ngừng, bên ngoài nắng sáng chang chang, cung nhân đang chơi ném tuyết trong sân, Văn Viện đưa Nạp Lan Hồng Diệp ra ngoài sưởi nắng.
Nạp Lan Hồng Diệp mặc áo choàng lông bạch hồ thật dày, ngồi trên ghế mềm nhìn ra ngoài sân, nghe tiếng cười đùa vui vẻ truyền khắp điện thì tâm tình cũng nhẹ nhõm hơn rất nhiều.
Bên tai chợt nghe thấy tiếng thì thầm rất nhỏ, Nạp Lan nhẹ đưa mắt sang thiên điện thì nhìn thấy Vương thái y và Lục thái y đang chụm đầu thương lượng gì đó. Bọn họ dường như không nhìn thấy nàng nên cũng không kiêng dè âm lượng.
Vương thái y là cựu thần của Hoài Tống, năm nay đã hơn bảy mươi tuổi, đang cau mày như phiền não chuyện gì đó. Khoảng cách khá xa nên nàng không nghe rõ, chỉ loáng thoáng nghe được cái gì hao tổn khí huyết, tâm tư nặng nề, tim phổi hư hại, đã là đèn cạn dầu, có uống thuốc và châm cứu cũng vô ích...
"Hai vị đại nhân đang nói cái gì đó?" Tiếng nói tức giận của Văn Viện khiến hai vị thái y giật bắn mình, ngẩng phắt lên, đập vào mắt là vẻ mặt phẫn nộ của Văn Viện, Nạp Lan Hồng Diệp ngồi một bên, sắc mặt bình thản, nhìn dáng vẻ thì dường như đã ở đây từ lâu.
Hai người sợ hãi quỳ *phịch* xuống, liên tục xin tội.
Nạp Lan Hồng Diệp cũng không nói gì, chỉ lẳng lặng quay đầu sang nhìn nhóm nha hoàn đang chơi ném tuyết trong sân, trên mặt không buồn cũng không vui, tựa như chưa từng nghe thấy những lời vừa rồi.
Đến lúc dùng bữa tối, Văn Viện hầu hạ bên cạnh, thấy tâm trạng Nạp Lan Hồng Diệp không tệ lắm thì mới dè dặt lên tiếng an ủi, bảo nàng chớ để bụng lời của hai vị thái ý kia, còn mắng bọn họ già cả lẩm cẩm, không đáng tin.
Nạp Lan Hồng Diệp nghe cũng chỉ mỉm cười, uống hết thuốc rồi đi ngủ sớm.
Sang ngày thứ hai, thái y viện cử một nhóm thái y mới đến điện Đông Nam, Nạp Lap Hồng Diệp cũng chẳng phản đối lời nào, vẫn mỗi ngày làm theo lời dặn của thái y, tĩnh tâm điều dưỡng. Từ từ, bệnh trạng không khá hơn nhưng cũng không chuyển biến xấu, chúng thái y rất vui mừng, nói chỉ cần qua khỏi mùa đông này thì bệnh của nàng sẽ tốt hơn rất nhiều.
Nhưng mấy ngày sau trời lại đột nhiên trở nên cực lạnh, gió gào rít cả ngày, mặt hồ đều bị đóng băng, tình hình của Nạp Lan Hồng Diệp lại xấu đi.
Trưa hôm đó, ngoài cửa sổ bão tuyết vẫn thổi *vù vù*, Nạp Lan Hồng Diệp tựa người lên đầu giường lắng nghe tiếng gió bên ngoài, nói mà thoáng có hơi thất thần: "Năm nay e không thể tổ chức hội hoa đăng rồi."Giọng của nàng rất khàn, không thể che giấu vẻ yếu ớt đến cùng cực.
Văn Viện cả ngày lo lắng đầy bụng nhưng lại không dám để nàng nhìn ra, thấy nàng lên tiếng thì vội vàng cười đáp: "Gió lớn thế này, vừa treo đèn lên thì đã bị gió thổi bay rồi, chắc là không tổ chức được rồi."
Nạp Lan Hồng Diệp gật đầu, Văn Viện tiếp lời: "Hay nương nương ngủ một lát đi, vừa mới uống thuốc xong, có đắng miệng không, có muốn ăn chút đồ ngọt không ạ?"
Nạp Lan Hồng Diệp lắc đầu, Văn Viện vừa định nói tiếp, chợt nghe được ba tiếng gõ thanh thúy từ bên ngoài truyền vào, lập tức vui mừng đứng dậy, nói nhanh: "Nương nương, là hoàng thượng đến." Dứt lời liền dẫn cung nhân ra ngoài tiếp giá.
Một lát sau, cửa điện mở ra, màn gấm nặng nề bị vén lên, Yến Tuân mặc trường bào đen thêu chỉ vàng tiến vào, vừa đi vừa cởi áo lông giao cho thị nữ đứng một bên.
Yến Tuân vẫn như cũ, mày kiếm đầy anh khí, mũi cao thẳng, đôi môi mỏng cương nghị, ánh mắt sâu không thấy đáy. Hắn ngồi xuống đối diện giường Nạp Lan Hồng Diệp, nhận lấy khăn nóng Văn Viện đưa tới lau mặt lau tay rồi mới hỏi: "Có khá hơn chút nào không?"
Nạp Lan Hồng Diệp tựa vào giường, khẽ gật đầu, trên mặt vẫn giữ vẻ bình thản vốn có, mỉm cười đáp: "Đa tạ hoàng thượng quan tâm, đã khá hơn nhiều."
Hắn gật đầu rồi tiếp tục hỏi: "Có uống thuốc đúng giờ không?"
Nạp Lan Hồng Diệp đáp: "Có ạ."
Hắn trầm ngâm một lát lại hỏi: "Trẫm nhớ được nàng rất sợ lạnh, hôm nay trời lạnh như vậy, trong cung có đủ ấm không?"
Đáy mắt Nạp Lan Hồng Diệp chợt xẹt qua một tia ngạc nhiên, nhưng cũng chỉ thoáng qua rồi biến mất, nàng ngước khuôn mặt gầy gò lên, nhẹ giọng nói: "Hoàng thượng không cần lo lắng, mọi thứ ở đây đều ổn."
Sau đó trong điện lại trở nên yên tĩnh như mặt hồ mùa thu, trừ tiếng gió ngoài cửa thì chẳng còn âm thanh nào khác. Hai người cứ như thế ngồi yên, không ai biết nói gì để phá vỡ sự lúng túng gượng gạo này.
"Vậy... hoàng hậu cứ nghỉ ngơi cho tốt, trẫm..."
"Hoàng thượng đã dùng bữa trưa chưa ạ?" Một tiếng nói thanh thúy đột nhiên vang lên.
Nạp Lan Hồng Diệp và Yến Tuân đồng loạt sửng sốt, quay sang nhìn thì nhận ra là Văn Viện vừa nói. Cô cung nữ trẻ tuổi sợ đến mặt trắng bệch, trán đã lấm tấm mồ hôi, hai tay siết chặt khăn tay, run run bên dưới ống tay áo.
Yến Tuân kinh ngạc nhìn Nạp Lan Hồng Diệp một cái rồi quay đi, cũng không tức giận, ngược lại gật đầu nói: "Vẫn chưa."
"Vậy hoàng thượng ở lại đây dùng bữa nhé? Tay nghề của đầu bếp ở điện Đông Nam rất tốt, cả nương nương cũng thích, hoàng thượng đến giờ vẫn chưa từng dùng thử."
Yến Tuân mỉm cười, gật đầu nói: "Được."
Văn Viện không kiềm được vẻ mừng rỡ đến mức luống cuống tay chân, vội vàng nói: "Vậy nô tỳ lui xuống chuẩn bị ngay đây." Dứt lời liền chạy đi ra ngoài.
Nhìn theo bóng lưng của Văn Viện, Nạp Lan Hồng Diệp bất đắc dĩ nói: "Thần thiếp quản giáo hạ nhân không nghiêm, xin hoàng thượng thứ tội."
Nhưng Yến Tuân lại lắc đầu, "Không có gì, thị nữ của nàng rất trung thành."
Nạp Lan Hồng Diệp sao lại không biết tâm tư của thị nữ thân cận, Văn Viện chỉ hy vọng Yến Tuân có thể ở lại với nàng lâu thêm một chút mà thôi, cho nên cũng không nói thêm gì khác.
Yến Tuân đứng dậy đi quanh điện, đi đến trước giá sách thì tiện tay rút ra một quyển, lật vài trang thì trả trở về chỗ cũ, sau đó lại rút ra một quyển khác xem. Nạp Lan Hồng Diệp quay lại săm soi hộp đồ linh tinh trên tay. Ánh mặt trời luồn qua cửa sổ rọi vào phòng, để lại từng ô vuông nhỏ trên mặt đất. Nắng trưa rất ấm áp, khiến căn phòng trở nên yên ả lạ thường, mặc cho gió mạnh gào rít bên ngoài.
"Nàng rất thích thuật kinh thương?" Yến Tuân đột nhiên mở miệng hỏi, trong tay cầm một quyển 'Kinh Vĩ thương thuật'.
Nạp Lan Hồng Diệp ngẩng đầu lên nhìn thoáng qua rồi đáp: "Tổ tiên của thần thiếp lập nghiệp từ kinh thương, Hoài Tống lại giàu mạnh nhờ buôn bán nên thỉnh thoảng rảnh rỗi thần thiếp cũng thích nghiên cứu một chút."
Yến Tuân cười nói: "Thật không ngờ."
"Không ngờ cái gì?"
Yến Tuân lắc đầu nói: "Không có gì, chỉ là trẫm biết một người cũng yêu thích thứ này."
Nạp Lan Hồng Diệp cười nói: "Là Huyền vương sao?"
Yến Tuân hơi kinh ngạc, "Sao hoàng hậu biết?"
Nạp Lan Hồng Diệp thản nhiên nói: "Thần thiếp quen biết Huyền vương từ nhỏ, dĩ nhiên hiểu Huyền vương hơn hoàng thượng nhiều."
Yến Tuân khẽ hừ mũi cười một tiếng khinh thường, nhưng cũng không nói gì, quay lại tiếp tục lật sách xem. Nạp Lan Hồng Diệp tựa như trẻ con đùa dai được như ý, mỉm cười đắc ý rồi cúi xuống tiếp tục sắp xếp đồ vật trong hộp.
Thời gian lẳng lặng trôi qua, thành thân đã nhiều năm nhưng đây dường như là lần đầu tiên Yến Tuân quan sát kỹ lưỡng tẩm điện của Nạp Lan Hồng Diệp, cảm thấy hoàng hậu của mình quả thực không phải nữ tử tầm thường, chẳng những có phẩm vị xuất chúng mà còn rất uyên bác, trong phòng rất nhiều sách nhưng tất cả đều có dấu vết đã lật qua, không giống các phi tần khác, sách trong phòng chỉ là bày cho có.
"Hoàng thượng, hoàng hậu nương nương, xin mời dùng bữa."
Thức ăn nhanh chóng được dâng lên. Nạp Lan Hồng Diệp đang uống thuốc cần kiêng khem nên trước mặt nàng chỉ có bốn món, còn bên Yến Tuân lại bày gần sáu mươi món nóng lạnh đủ loại, nhìn hết sức thịnh soạn.
Yến Tuân hơi lúng túng, không khỏi liếc nhìn Nạp Lan Hồng Diệp một cái, nhưng nàng chỉ cười nói: "Hoàng thượng ngày thường rất ít đến chỗ của thần thiếp nên bọn hạ nhân không biết khẩu vị của ngài, đành phải chuẩn bị nhiều một chút. Xin hoàng thượng đừng trách, bọn họ cũng chỉ thành tâm muốn lấy lòng hoàng thượng thôi."
Lời này nếu là người khác nói thì sẽ nghe như đang ghen, nhưng từ miệng Nạp Lan Hồng Diệp lại hết sức thản nhiên.
Văn Viện đứng bên cạnh, thấy Yến Tuân không nói gì mà chỉ bắt đầu cầm đũa ăn thì không khỏi mừng rỡ, thầm khen bản thân hôm nay thật nhanh trí, bình thường nương nương có khi nào có tinh thần như vậy đâu. Quả nhiên chữa tâm bệnh cần có thuốc riêng, hoàng thượng tới nhiều thêm mấy lần, không chừng bệnh của nương nương sẽ tốt hơn.
Hai người chậm rãi dùng bữa, ăn xong thì đã đến giờ nghỉ trưa. Yến Tuân tùy ý trò chuyện với Nạp Lan Hồng Diệp thêm vài câu, giọng điệu đã tự nhiên hơn rất nhiều, dặn dò hạ nhân cẩn thận chăm sóc nàng rồi nói cần phải trở về tẩm điện của mình. Nhưng hắn vừa xoay người rời đi thì lại đột nhiên nghe *rẹt* một tiếng, thì ra ống tay áo vướng phải cạnh bàn đã bị rách một lỗ thật to.
Yến Tuân giơ tay áo nhìn thoáng qua rồi cũng không để ý, ra hiệu đưa áo khoác ngoài đến.
Nhưng Nạp Lan Hồng Diệp lại nói: "Hoàng thượng, tay áo của hoàng thượng bị rách rồi."
Yến Tuân thản nhiên nói: "Không sao."
"Chờ một chút." Nạp Lan Hồng Diệp kéo ống tay áo của Yến Tuân qua, chăm chú nhìn một chút rồi nói: "Đây là lụa cống phẩm từ Thiên Tứ, loại lụa này một năm quận Thiên Tứ cũng chỉ sản xuất đủ để làm ra vài bộ y phục mà thôi. Năm nay hoàng thượng cũng chỉ có một bộ triều phục may bằng lụa Thiên Tứ, bị rách như vậy, có đưa cho Ngự tú phòng e cũng không ai dám sửa."
Yến Tuân làm sao biết được bộ y phục này có lai lịch thế nào, nghe nói thì không khỏi nhìn y phục trên người thêm mấy lần, nhưng miệng vẫn nói: "Rách rồi thì thôi, không sao."
Nạp Lan Hồng Diệp lại nói: "Hoàng thượng không đau lòng nhưng thần thiếp đau lòng. Hàng năm có không biết bao nhiêu tú nữ mỏi mắt đau tay chỉ vì một cuộn vải này đấy. Hoàng thượng nhìn đi, không chỉ thêu hai mặt mà chất vải còn được dệt rất tỉ mỉ, nhìn kỹ còn có thể thấy được chữ 'Phúc' (福) rất nhỏ nữa."
Yến Tuân nhìn kỹ lại, quả nhiên là thật, không kiềm được phải tán thưởng: "Quả nhiên rất tinh diệu."
"Văn Viện, lấy kim chỉ cho ta."
Yến Tuân sửng sốt hỏi: "Hoàng hậu muốn làm gì?"
"Nếu Ngự tú phòng không dám sửa thì dù sao bộ y phục này cũng sẽ bị vứt xó, không bằng cứ để thần thiếp vá thử, nếu làm hư luôn thì hoàng thượng cũng đừng trách tội đấy."
Yến Tuân lại càng ngạc nhiên, buột miệng hỏi: "Hoàng hậu còn biết may vá?"
Nạp Lan nhướng mày nhìn hắn một cái, nhận lấy kim chỉ từ tay Văn Viện rồi bắt đầu khâu chỗ rách, vừa khâu vừa nói: "Hoàng thượng ngồi xuống đi, một chốc là xong."
Chẳng rõ vì sao nhưng Yến Tuân lại hơi căng thẳng, dợm định ngồi xuống cạnh Nạp Lan Hồng Diệp rồi lại lúng túng muốn tránh xa, "Đừng đâm ta đấy."
Nạp Lan Hồng Diệp nhướng mày, "Người kinh qua sa trường mà còn sợ một cái kim may bé xíu?"
Yến Tuân trưng ra vẻ mặt không tin tưởng tay nghề của nàng nhưng cũng chỉ hơi chau mày, không nói gì khác.
Sau đó, Nạp Lan Hồng Diệp cực kỳ thuần thục xe chỉ luồn kim, mũi kim dưới ngón tay thon dài của nàng như vật sống, hết sức linh hoạt. Nàng rất gầy, từ góc nhìn của Yến Tuân chỉ có thể thấy được một đoạn cổ trắng nõn.
Ánh mặt trời chiếu lên người Nạp Lan Hồng Diệp, mang theo khí tức bình thản nhàn nhạt, không trung thoang thoảng mùi thuốc, cát trong đồng hồ chậm rãi chảy xuống, trong điện yên tĩnh tựa như có thể nghe rõ tiếng mũi kim thoăn thoắt xuyên qua lần vải lụa.
Thế rồi Nạp Lan Hồng Diệp chợt hơi run tay, bắt đầu ho khẽ.
Mới đầu nàng còn cố sức khống chế, nhưng sau dần lại không thể kiềm được nữa, ho càng lúc càng lớn. Yến Tuân cau mày, đưa tay ra vỗ nhẹ lên lưng nàng, vừa vỗ vừa gọi to: "Mang nước đến, nhanh một chút."
Văn Viện vội vang bưng nước đến, Yến Tuân nhận lấy chén nước giúp Nạp Lan Hồng Diệp uống một hớp. Sau đó hô hấp của nàng dần bình ổn lại, nhưng mặt vẫn đỏ hồng, ánh mắt hết sức mệt mỏi.
"Không sao chứ, có cần gọi thái y hay không?"
Nạp Lan Hồng Diệp suy yếu lắc đầu, "Không cần, bệnh cũ thôi, nghỉ một chút sẽ ổn thôi."
"Hôm nay dừng ở đây thôi, ngày mai khỏe hơn thì hãy vá tiếp."
Nạp Lan Hồng Diệp thật sự mệt nên cũng gật đầu.
Yến Tuân cởi trường bào ra đưa cho Văn Viện, dặn dò: "Mấy ngày tới không được cho nương nương nhà ngươi động châm, chờ khỏe lại mới đưa cho nàng."
Văn Viện vui vẻ gật đầu, thầm nghĩ ông trời cuối cùng đã mở mắt, sau năm năm hoàng thượng rốt cuộc cũng biết đau lòng cho nương nương.
Yến Tuân khoác áo lông vào rồi quay sang nói với Nạp Lan Hồng Diệp: "Trẫm đi trước, nàng nghỉ ngơi cho tốt."
Nạp Lan Hồng Diệp gật đầu, nhìn Yến Tuân xoay người chuẩn bị đi ra ngoài, nhìn bóng dáng của hắn chậm rãi biến mất sau tầng tầng màn lụa thì đột nhiên cảm thấy hoảng hốt, bất chợt gọi to: "Hoàng thượng?"
Yến Tuân sửng sốt, quay lại từ rất xa nhìn nàng.
Đại điện rất rộng khiến khoảng cách giữa hai người rất lớn. Bọn họ cứ như vậy nhìn nhau, thời gian trong quá khứ như lại ào ào trở lại, một năm, hai năm, ba năm, năm năm, và đoạn thời gian hơn mười năm không nhìn thấy nhau, rất lâu rồi.
"Tối hôm nay thần thiếp sẽ dặn phòng bếp làm thêm nhiều món ngon, hoàng thượng sẽ lại đến chứ?"
Yến Tuân đứng giữa đại điện nhìn người phụ nữ ngồi trên chiếc giường ở cuối điện.
Đó là thê tử của hắn, là người thê tử đã giúp đỡ hắn rất nhiều nhưng hắn chưa bao giờ nhìn kỹ nàng.
Hắn cứ như vậy đứng nhìn nàng, cố gắng hồi tưởng dáng vẻ khi trước của nàng, nhưng ngoại trừ châu ngọc lộng lẫy thì chẳng còn gì khác. Hiện tại nàng chỉ mặc một bộ y phục trắng đơn giản, đầu không cài trang sức, mặt không chút phấn son, gầy yếu đến cực độ, tựa như một ngọn đèn sắp tắt, không biết còn có thể cháy thêm bao lâu nữa.
Thôi vậy...
Yến Tuân lặng lẽ thở dài trong lòng.
Cho dù nàng chiếm binh quyền của Huyền Mặc, cho dù nàng có thể đã nhận ra quan hệ giữa hắn và Huyền Mặc, cho dù nàng đã hủy bỏ bức thư Huyền Mặc viết cho hắn trước khi chết...
Thôi vậy...
Yến Tuân gật đầu, nói: "Nàng nghỉ ngơi cho tốt, đến tối trẫm sẽ lại đến thăm nàng."
Cửa điện mở rộng, gió lạnh thổi vào mang theo hương vị trong trẻo.
Nạp Lan Hồng Diệp ngồi trên giường lẳng lặng nhìn theo bóng lưng dần xa của Yến Tuân, ánh mắt trở nên mông lung.
"Nương nương..." Văn Viện vui vẻ hét lên: "Nô tỳ đi chuẩn bị đây."
Nạp Lan Hồng Diệp hít sâu một hơn, vùi người vào chăn gấm, đột nhiên nhớ đến một buổi chiều rất nhiều năm trước, chàng cưỡi ngựa từ xa đuổi theo, cuối cùng đứng ở đầu cầu nói to với nàng khi đó đã đi xa: "Ta có chôn một vò rượu ngon dưới gốc hoa lê, sang năm đệ lại đến chứ?"
Sang năm đệ lại đến chứ? Sang năm đệ lại đến chứ? Lại đến chứ?
Đã bao nhiêu năm nhưng chỉ cần vừa nhắm mắt là nàng lại có thể nghe được âm thanh đó, tựa như mới như hôm qua.
"Sẽ đến! Hãy chờ đệ!" Nàng ngồi trên xe ngựa, cũng quay lại nói to với bóng dáng ở đầu cầu.
Sẽ đến! Hãy chờ đệ!
Nhưng cuối cùng nàng lại không thể trở lại.
Phụ hoàng băng hà, để lại nàng cùng mẫu hậu bệnh tật và người đệ đệ bị ngốc, một mình nàng vừa chống chọi với sự đau khổ vì mất cha, vừa gánh vác triều chính và đấu đá với dã tâm của đám thân vương. Gánh nặng giang sơn đều đặt lên hai bờ vai non nớt của nàng.
Còn chàng thì cửa nát nhà tan, từ một thế tử cao quý thoáng cái biến thành tội nhân bị giẫm đạp.
Sau mười năm vào sinh ra tử, hai người cuối cùng cũng trùng phùng trên mảnh đất lần đầu gặp mặt. Đáng tiếc, núi lở sông dời, mọi thứ đã không còn như cũ, bọn họ trở thành kẻ không quen.
Nàng chậm rãi nhắm mắt lại, khóe miệng khẽ nở một nụ cười nhàn nhạt.
Trời còn chưa tối nhưng Văn Viện đã bận cuống lên, hết phối y phục rồi lại trang điểm cho nàng. Hạ nhân phòng bếp biết hoàng thượng sẽ đến dùng bữa tối thì cũng kỳ công chuẩn bị. Dù không muốn nhưng hiếm khi thấy tất cả phấn khởi như vậy, Nạp Lan Hồng Diệp cũng không phản đối.
Song sắc trời càng lúc càng tối, đã sớm qua giờ cơm tối nhưng bóng dáng Yến Tuân vẫn biệt tăm.
Tất cả hạ nhân đều nóng ruột trong bụng, Văn Viện một mặt phái người ra ngoài hỏi thăm tin tức, một mặt liên tục an ủi Nạp Lan Hồng Diệp.
Trong bụng hiểu rõ nên Nạp Lan Hồng Diệp cũng không thấy quá thương tâm, chỉ chẳng qua cảm thấy hơi trống trải. Ngọc Thụ nói rất đúng, điện Đông Nam quá lớn nên luôn nhìn rất lạnh lẽo.
Một lát sau, tiểu thái giám bên cạnh Yến Tuân chạy đến báo rằng phía Mỹ Lâm Quan đưa đến tình báo khẩn cấp nên tối nay hoàng thượng sẽ ở thư phòng thảo luận chính sự với các vị đại nhân, không thể đến.
Tiểu thái giám vừa dứt lời, Nạp Lan Hồng Diệp dường như có thể nghe rõ khắp điện vang lên tiếng thở dài rất khẽ. Nàng ung dung ra lệnh ban thưởng tiểu thái giám, sau đó quay sang nói với Văn Viện: "Được rồi, dọn bữa tối lên đi."
Văn Viện sửng sốt, "Dạ?"
Nạp Lan Hồng Diệp bật cười, "Dùng bữa tối chứ gì nữa, chẳng lẽ hoàng thượng không đến thì bổn cung không cần ăn sao?"
Văn Viện lúc này mới bừng tỉnh, vội vàng xua bọn hạ nhân đang thất thần đi ra ngoài chuẩn bị.
Bữa tối có hơn hai mươi món, hôm nay dường như khẩu vị rất tốt nên nàng ăn rất nhiều, hồi lâu sau mới cho dọn đồ tráng miệng lên.
Liên tục ba ngày sau Yến Tuân vẫn bộn rộn chính sự. Năm đó sau khi binh biến thất bại, Tĩnh An vương phi Triệu Thuần đã lùi vào biên cương phía nam Biện Đường, mấy lần bị Gia Cát Nguyệt dẫn binh tiêu trừ nhưng đều may mắn thoát được. Gia Cát Nguyệt nể tình Triệu Triệt, lại thấy nàng ta không tiếp tục tấn công Biện Đường nữa thì cũng không đuổi tận giết tuyệt. Bây giờ lại nghe phía Tây Bắc báo tin nói rằng thấy người của Tĩnh An vương phi qua lại với Khuyển Nhung, e lại sắp có biến. Các loại tình báo liên tục chạy nước rút đưa về kinh thành, khiến triều đình Đại Yến nhất thời chìm trong bầu không khí căng thẳng.
Ba ngày nay, bệnh tình của Nạp Lan Hồng Diệp cũng trở xấu. Điện Đông Nam càng thêm vắng lặng bi thương.
Tối hôm đó, Nạp Lan Hồng Diệp đã nằm li bì ba ngày đột nhiên ngồi dậy, bảo Văn Viện mang chiếc hộp gấm trong tủ ra cho nàng. Văn Viện vốn muốn khuyên nàng không nên gắng sức, nhưng thấy thần sắc kiên định của nàng thì không dám nói gì nữa.
Chiếc hộp gấm bằng gỗ đàn hương thoạt nhìn rất cũ kỹ, nhẹ tênh nhưng không biết bên trong có đồ quý giá gì mà lại có đến ba tầng khóa.
Trong lúc lấy khăn lau bụi bẩn bám bên ngoài hộp, bụi đóng rất dày, bay mù mịt khiến Văn Viện ho khan mấy lượt, cho thấy chiếc hộp đã nằm đó rất lâu.
Nạp Lan Hồng Diệp nhận lấy cái hộp, lặng lẽ nhìn nó một hồi, sau đó đưa tay xuống gối cầm chùm chìa khóa có ba chìa mở hộp ra.
Văn Viện nghểnh cổ nhìn vào trong, chỉ thấy trong hộp là một chồng thư thật dầy, có nhiều bức đã ố vàng, không khỏi có hơi nhíu mày vì thất vọng.
"Văn Viện, đi lấy một chậu than đến đây."
"Nương nương cần chậu than để làm gì?"
Nạp Lan Hồng Diệp chỉ vào chồng thư, nói: "Đốt những thứ này."
"Hở, đốt ạ?" Văn Viện sửng sốt, tuy nàng không biết thư này là ai viết, nhưng chỉ vị trí đặt hộp thì biết người này hết sức quan trọng đối với hoàng hậu, nên hỏi lại: "Nương nương, tại sao vậy? Tại sao lại muốn thiêu thủy chúng?"
Nạp Lan Hồng Diệp thoáng suy tư, nhẹ giọng nói: "Không đốt đi thì sẽ khiến người khác thương tâm."
Văn Viện dĩ nhiên nghe không hiểu, nhưng vẫn ngoan ngoãn y lệnh ra ngoài ôm một chậu than vào. Ánh lửa bắt than cháy *lách tách* vô cùng vui tai.
"Văn Viện, em ra ngoài trước đi."
Văn Viện gật đầu, "Vâng, nương nương cần gì thì cứ gọi nô tỳ."
Cửa điện khép kín, trả lại sự yên tĩnh cho đại điện. Nạp Lan Hồng Diệp cần lấy chồng thư dày cộm kia, đầu ngón tay tái nhợt nhẹ vuốt ve những bức thư đã được đọc không biết bao nhiêu lần, ánh mắt dần trở nên dịu dàng.
Đúng vậy, Vân cô cô nói rất đúng, nàng chỉ là một đứa nhát gan.
Tôn nghiêm công chúa gì chứ, thể diện quốc gia gì chứ, dòng họ Nạp Lan thị gì chứ, tất cả đều là lừa mình dối người mà thôi. Nàng chẳng qua chỉ là sợ hãi, chẳng qua không có dũng khí nói ra mà thôi.
Chàng không biết thì mỗi khi nhìn thấy chàng thương nhớ Huyền Mặc, nhìn thấy chàng chăm sóc đối tốt với Ngọc Thụ và Vĩnh Nhi, nàng sẽ cảm thấy ngọt ngào, sẽ cảm thấy chàng vẫn coi trọng người nghĩa đệ là nàng đến như vậy, biết được bản thân vẫn còn một chỗ đứng trong lòng chàng.
Nhưng sau khi chàng biết rõ sự thật mà vẫn không yêu không đoái hoài đến nàng, thử hỏi làm sao nàng có thể chịu được?
Nàng sợ, nàng không có dũng khí, nàng sợ khi chân tướng lộ ra thì chàng bất quá chỉ hơi kinh ngạc, nhưng vẫn không cách nào đáp lại tình cảm của nàng. Nàng sợ sau khi liều lĩnh đánh cược vẫn không thể đánh bại được người trong lòng chàng. Nàng sợ sau khi chân tướng lộ ra, không những thất bại trong tranh giành tình cảm mà ngay cả quyền mơ mộng cũng không còn. Vì ít nhất thì bây giờ nàng vẫn có thể tự lừa dối bản thân, nói rằng mình và người trong lòng chàng đều quan trọng như nhau.
Nhìn đi, nàng là một người hèn nhát như vậy đấy, biết rõ là đang lừa mình dối người nhưng vẫn ngoan cố đến thế.
Nhưng nàng còn có thể làm gì khác? Tình yêu của nàng chính là một gốc cây không thể ra trái, nàng sợ mùa thu đến nên vẫn cố chấp níu giữ mù hạ, không muốn đối mặt với kết cuộc suy tàn trụi lá ảm đạm.
Nạp Lan Hồng Diệp cầm một bức thư đã ố vàng đầy chữ lên, chất giấy để lâu nên vừa mỏng vừa giòn, vừa chạm đã *răng rắc* muốn vỡ. Nàng nhẹ nhàng thả bức thư vào chậu than, lửa bùng lên. Những con chữ mà nàng đã quý trọng nhiều năm thoáng cái đã hóa thành tro bụi.
Năm đó nàng phái Huyền Mặc đến Đông Hải không phải là vì muốn hại chết huynh ấy, cũng không phải là vì muốn chiếm đoạt binh quyền.
Khi ấy, huyết mạch hoàng thất Hoài Tống đã suy kiệt, quân đội thân vương khắp nơi rục rịch nổi dậy, nàng cố tình mượn sức Bắc Yến duy trì Nạp Lan thị, giúp cho dân chúng một con đường sống. Nhưng bọn người có lòng tham dòm ngó giang sơn Đại Tống và những triều thần ngu trung kia lại một mực không đồng ý. Khi ấy, người nào dâng ra quốc gia sẽ chính là nghịch thần phản quốc, đeo tiếng xấu muôn đời, vĩnh viễn không rửa sạch. Nàng chẳng qua chỉ không muốn phủ Huyền vương mấy đời trung trinh phải gánh tiếng xấu này thay nàng, vì vậy mới phải đưa Huyền Mặc rời xa trung tâm chính quyền. Ngoài ra nàng còn sợ nếu toàn bộ thuộc hạ thân binh trung thành dưới trướng Huyền Mặc chung sức phản đối, cho dù Huyền Mặc không đồng ý thì sau khi Yến Tuân lên ngôi, đại thần Bắc Yến sẽ tìm cách thêu dệt tội danh tìm cách trừ khử Huyền Mặc. Cho nên nàng mới tách rời Huyền Mặc và thân binh, mới để huynh ấy thống lĩnh đội quân không quen thuộc đến Đông Hải.
Thế nhưng nàng tính toán mọi đường vẫn không ngờ cường đạo ở Đông Hải lại có thể nhân dịp Hoài Tống xảy ra nội loạn mà hợp sức tấn công nha môn, cũng không ngờ Huyền Mặc là thân vương lại đích thân mặc giáp ra trận, còn ở tiền tuyến xung phong giết địch.
Bây giờ nghĩ lại, nàng có ngày hôm nay, cũng chính là báo ứng thôi.
Nàng tham chính nhiều năm, trên tay đã nhuốm máu của vô số người rồi, mỗi một đạo thánh chỉ chính là ngàn vạn đầu rơi máu đổ. Nàng hiểu, đều hiểu cả.
Thế nên khi nhìn ra chàng đều tính toán ngày hàng tháng mỗi lần đến cung Đông Nam, nàng đã hiểu được, chàng không muốn nàng sinh con cho mình.
Ngay cả khi đã hứa với triều thần Hoài Tống sẽ giữ vững vị thế cho bọn họ, nhất định sẽ để hoàng đế đời sau của Đại Yến mang dòng máu của hoàng thất Hoài Tống, nàng cũng không miễn cưỡng chuyện này, cũng không nguyện dùng áp lực triều chính đối với chàng.
Đây chính là lần tùy hứng duy nhất trong đời nàng.
Về sau, sau mỗi lần cùng giường nàng đều uống thuốc trước mặt chàng, xóa bỏ mọi lo lắng trong lòng chàng. Nhưng càng về sau chàng càng ít đến điện Đông Nam, đến nay đã gần hai năm chàng không qua đêm ở điện của nàng rồi.
Cả đời này của nàng, những thứ nàng muốn đều như cát chảy qua kẽ ngón tay, càng muốn nắm chặt thì đều tuột mất nhanh hơn, đến nay đã không còn gì nữa rồi.
Lửa trong chậu nhanh chóng nuốt sạch mọi thứ, tất cả bằng chứng bọn họ từng quen nhau đều bị nàng thiêu thủy cả.
Có tình yêu là ngọt ngào thì cũng có tình yêu là gánh nặng. Nàng phụ lòng Huyền Mặc, đã áy náy cả đời rồi. Hiện tại nàng đã sắp chết, cần gì phải để chàng biết được chân tướng rồi lại áy náy cả đời như nàng.
Đốt thôi, thiêu hủy tất cả thôi.
Người đời đều nói cuộc đời nàng là vinh hoa phú quý, là một người trên vạn người, nhưng chỉ có nàng biết được, chỉ có nàng nhìn được, khuất dưới lớp vỏ ngoài hoa lệ kia chính là một trái tim bi thương đến đâu.
Không phải là không yêu, chỉ là không thể yêu mà thôi.
Nàng và chàng quá giống nhau, lưng đeo quá nhiều trách nhiệm, gánh vác quá nhiều sứ mạng, nặng đến mức không thể tùy hứng, không thể vọng động, không thể làm theo nhiệt huyết, không thể đi ngược lại ý trời.
Đốt thôi, thiêu hủy tất cả thôi.
Khói bốc lên mù mịt, Nạp Lan Hồng Diệp bắt đầu ho khan, cảm nhận được trên mặt có chất lỏng nóng ấm chảy xuống. Nàng chợt mơ hồ nhớ đến ngày xuân tươi sáng năm ấy, hoa lê nở trắng trời, chàng đứng trong hoa viên lộng gió, vạt áo bay bồng bềnh, quay đầu lại khi thấy nàng đường đột xông vào, ánh mắt lấp lánh, miệng mỉm cười nhìn nàng, hỏi mà như trêu: "Lạc đường à? Ngươi là người ở cung nào?"
Khi ấy nàng mặc nam trang, mặt đỏ lên, lấy hết dũng khí mở miệng nhưng giọng vẫn nhỏ xíu: "Ta... ta là con trai của An Tĩnh vương từ Hoài Tống, ta tên Huyền Mặc..."
Có lẽ vừa bắt đầu đã sai rồi.
Ngày xuân tươi đẹp đến mấy, nắng sớm ấm áp đến đâu thì vẫn bị bụi mù thời loạn thế che phủ. Trời vẫn trong nhưng mây ngũ sắc ngày đó đã không còn, hiện thực tàn khốc đã chém nát chút vương vấn ngây thơ thời niên thiếu, còn sót lại chỉ có sự thê lương điêu tàn mà thôi. Thế nhưng nàng vẫn cố chấp nhớ mãi không quên.
Cả đời chàng chỉ có hai người là quan trọng nhất, một đã bị chính tay chàng đẩy đi, nên chàng đã dành toàn bộ tình cảm chân thành còn lại cho huynh đệ kết nghĩa của mình, 'Huyền Mặc' vĩnh viễn nằm ở nơi mềm mại nhất trong tim chàng.
Chỉ tiếc, nàng chẳng là ai trong hai người này cả.
Trong điện rực rỡ ánh đèn, nhưng trước mắt nàng như bị giăng bởi một màn sương mù, không nhìn thấy phía trước.
Sự cố chấp cả đời, trải qua bao mưa gió cuối cùng lại lặng lẽ hòa tan trong không khí, chìm vào chốn thâm cung vắng lặng. Đôi bàn tay trắng nõn này từng nắm quyền sinh sát của hàng vạn sinh linh, hiện tại quay đầu nhìn lại, chỉ cảm thấy đó là quãng đường thật dài, dài đến mức nàng cảm thấy bản thân như phù du, vất vơ không biết đi hướng nào.
Xấp thư trong tay nhẹ nhàng rơi xuống, bị ngọn lửa trong chậu than cuốn vào thì rùng mình một cái, lập tức hóa thành tro bụi. Nàng ngơ ngẩn nở một nụ cười rồi buông thõng cánh tay.
Năm thứ 5 Yến thái tổ khai nguyên, trong một đêm bão tuyết ngày 4 tháng 12, hoàng hậu Nạp Lan thị qua đời tại điện Đông Nam, cung Yến Ly.
.................................................................................................
"Hoàng thượng." Nội thị ở phía sau thấp giọng nói: "Đã tìm được."
Yến Tuân chậm rãi xoay người lại, điện Đông Nam hiện giờ không còn một ai, lễ tang qua đi, cung nhân trong điện Đông Nam đều được phân sang các cung khác. Hiện giờ, ở đây chỉ còn hai nội thị già chịu trách nhiệm quét tước mà thôi.
Nắp hộp được mở ra, bên trong là trường bào đen tuyền thêu hình mây bằng chỉ vàng, lớp lụa ẩn ẩn vô số chữ 'phúc' rất nhỏ, nhìn qua cũng biết là làm bằng vải quý, chỉ là ở ống tay áo trái có một vết rách khá to, nhưng đã được vá lại, và đường vá khéo đến nỗi không nhìn kỹ thì sẽ không nhận ra.
Yến Tuân im lặng đứng nhìn hồi lâu, cuối cùng mới ngẩng đầu lên, cầm bộ y phục giao cho hạ nhân, ra lệnh: "Trở về."
"Dạ." Hạ nhân phía sau đồng thanh đáp lời.
Cửa điện rộng mở khiến gió lạnh ùa vào, làm lớp bụi đóng trên sàn điện bay lên. Ánh nắng phản chiếu mặt tuyết hơi chói mắt, Yến Tuân hơi nheo mắt, ra đến cửa thì đột nhiên quay đầu lại nhìn chăm chú về phía chiếc giường phủ màn lụa cuối điện. Một tháng trước, nàng còn ngồi đó, nhẹ giọng hỏi hắn: "Tối hôm nay thần thiếp sẽ dặn phòng bếp làm thêm nhiều món ngon, hoàng thượng sẽ lại đến chứ?"
Hoàng thượng sẽ lại đến chứ?
Ánh mặt trời xốn mắt chợt khiến tim hắn khẽ nhói.
Chỉ là nhất thời thất hẹn, nhưng không ngờ lại trở thành vĩnh biệt.
Hàng mày của Yến Tuân thoáng chíu lại rồi nhanh chóng giãn ra, chậm rãi tiêu trừ chút bi thương trong lòng.
Vừa định nhấc chân rời đi thì chợt ngửi được mùi cháy khét, Yến Tuân quay đầu nhìn thì thấy ở khúc quanh rất xa có một tiểu cung nữ đang ngồi đốt thứ gì đó. Thoáng sững sờ trong bụng, hắn dẫn hạ nhân đi đến đó.
Tiểu cung nữ kia nhìn thấy hắn thì lập tức kinh hoảng đến giật bắn, vội vàng quỳ xuống thỉnh an.
Yến Tuân nhìn tiểu cung nữ, hơi nhíu mày hỏi: "Ngươi là Văn Viện lúc trước hầu hạ trong điện Đông Nam?"
"Thưa phải ạ."
"Tại sao lại ở đây?"
"Đây đồ dùng cũ của hoàng hậu nương nương, nương nước trước khi qua đời đã nói muốn thiêu hủy tất cả, mấy ngày nay nô tỳ bị điều đến hầu hạ An Tĩnh tần nên không có thời gian quay lại, hôm nay có được chút thời gian nên mới quay lại đốt nốt."
Yến Tuân nhìn thấy Văn Viện mặc y phục cung nữ hạ đẳng, trên cổ còn vết đỏ nhàn nhạt thì biết nàng đích thị là bị người cung khác ức hiếp sau khi hoàng hậu mất. Hắn im lặng ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi: "Nhà ngươi ở đâu?"
Văn Viện sửng sốt, không ngờ hoàng thượng sẽ hỏi như vậy, nhưng vẫn vội vàng đáp: "Nô tỳ vốn theo hoàng hậu nương nương đến đây, nhà nô tỳ ở Hoài Tống."
"Trong nhà vẫn còn người thân?"
"Bẩm hoàng thượng, trong nhà vẫn còn cha mẹ già, ba huynh trưởng, hai tỷ tỷ và một muội muội."
Yến Tuân gật đầu, quay sang nói với hạ nhân: "Lệnh cho Ty nô cục, ban cho nàng chức nữ quan tứ phẩm, hiệu Điềm Vinh, hưởng bổng lọc của mệnh quan ngũ phẩm, ngoài ra thưởng thêm một trăm lượng vàng, được phép xuất cung ngay hôm nay, cho người hộ tống nàng hồi hương."
"Dạ rõ."
Văn Viện nghe mà ngơ ngẩn, vẫn quỳ trên đất, không nói tiếng nào. Viên nội thị lĩnh chỉ cười nói: "Nữ quan Điềm Vinh, mừng quá nên đờ đẫn cả người rồi à? Còn không mau lĩnh chỉ tạ ơn?"
Văn Viện nhất thời nước mắt tràn mi, lập tức dập đầu xuống đất, nói to: "Đạ tạ thiên ân của hoàng thượng, đa tạ thiên ân của hoàng thượng."
Yến Tuân cũng chỉ im lặng nhìn thoáng qua những tờ giấy trắng đầy đất rồi xoay người rời đi.
Tuyết đã ngừng, trời xanh thăm thẳm tựa mặt hồ mùa thu, gió từ xa thổi đến khiến xấp giấy trong chậu khẽ cong lên, nhanh chóng bắt lửa. Một mẩu giấy chưa cháy hết bị gió thổi lên không trung, bay lãng đãng theo hướng bóng dáng nam tử vừa đi xa.
Rất nhiều năm trước, dưới ánh đèn leo lắt, một vị tướng quân đã dùng hết hơi sức cuối cùng cố gắng viết xong một bức thư. Bức thư này đã đi qua tay rất nhiều người, nhưng lại không ai thấy có gì không ổn. Đó bất quá chỉ là một bức thư thông báo tình hình biên cương bình thường gửi đến Yến hoàng, trên thư phân tích rõ ràng binh lực cùng ưu khuyết điểm của các tướng lĩnh.
Trên đời chỉ có ba người xem hiểu phong thư này có gì khác lạ, nhưng hai trong ba người hiện giờ đã qua đời.
Nét chữ mạnh mẽ, đóng tên cùng dấu hiệu của Huyền Mặc, nhưng bút tích lại không phải của vị cố nhân Yến Tuân thư từ qua lại nhiều năm.
Gió tiếp tục thổi, phần thư cháy dở đuổi theo sau Yến Tuân, uốn lượn trong gió, lửa tiếp tục cháy, cháy đi phần mở đầu, cháy đi phần thỉnh an chào hỏi, đã cháy hết hơn nửa...
Gió đột nhiên thổi mạnh khiến mảnh giấy bay vút lên cao, mắt thấy sắp đuổi kịp người nọ thì một nhánh hoa lê đột nhiên chìa ra cản đường. Mảnh giấy cứ thế giắt trên nhánh hoa lê, bất lực nhìn người nọ đi qua bên dưới.
Yến Tuân nhìn thấy gốc hoa lê thì thoáng thất thần. Nhớ lúc còn bé, đây chính là nơi hắn lần đầu gặp được Huyền Mặc. Lúc ấy Huyền Mặc bị lạc đường, đi loạn khắp nơi tìm đường ra, khuôn mặt nhỏ đỏ bừng vì hốt hoảng như một tiểu cô nương dễ xấu hổ.
"Hoàng thượng?" Nội thị nhỏ giọng gọi: "Hoàng thượng?"
Yến Tuân hồi thần, khẽ 'ừ' một tiếng rồi quay đầu tiếp tục đi về phía cửa điện Đông Nam.
Mảnh giấy trên nhành hoa lê tiếp tục cháy, ngọn lửa chậm rãi nuốt trọn bức thư đã bị cất giấu năm năm không đến được tay chính chủ. Cuối cùng nó chỉ còn lại một mảnh tro đen giắt trên ngọn cây, gió thổi qua khiến mảnh tro vỡ tan thành ngàn mảnh bụn.
Ở trong góc điện, tiểu cung nữ vẫn đang nức nở nhặt thư rơi vương vãi trên mặt đất thả vào chậu, lửa bùng lên nuốt gọn tất cả.
Tình sâu mênh mông nhưng duyên lại quá mỏng.
Đã từng như thế, và đến giờ cũng vẫn vậy.
....................................................................................................................
—Trích lịch sử Đại Yến —
Năm Khai Nguyên thứ sáu, lăng tẩm của Nạp Lan hoàng hậu được xây xong, tọa lạc ở phía nam núi Lạc Nhật thuộc Bắc Yến.
Hai mươi ba năm sau, Yến thái tổ băng hà, được chôn trong lăng Thái Cực nằm phía bắc núi Lạc Nhật, nằm đối diện với lăng tẩm của hoàng hậu.
Một nhánh sông Xích Thủy bắc ngang hai lăng tẩm, mùa đông sẽ có tuyết bay lất phất, bông tuyết rơi trên mặt sông nhìn như hoa lê nên người dân địa phương liền đặt tên con sông này là sông Hoa Lê.
Phiên Ngoại 7: Vảy Ngược
Trời sập xuống cũng không thể buông tay, bởi vì được che chở dưới bờ vai này là người hắn yêu —
Gió lạnh tạt rát mặt, trên lưng thám báo trẻ tuổi cắm tận mười mũi tên nhọn nhưng vẫn không ngã xuống, dùng trường thương cột chặt vào mình ngựa, mũi thương nhọn cắm thẳng vào ngực, giữ cho thân thể chết rồi cũng không ngã. Phần giáp trước ngực bị xé toạc, phần áo trắng lộ ra mấy chữ thật to viết bằng máu: Ba mươi dặm phía đông nam, một vạn khinh kỵ binh.
Gia Cát Nguyệt lặng lẽ nhìn cậu chiến sĩ trẻ tuổi, cúi đầu hồi lâu mới nhẹ giọng nói: "Ngươi cực khổ rồi."
Chợt *thịch* một tiếng, đầu thương không chống nổi sức nặng đã đâm xuyên qua ngực cậu thám báo, máu tươi túa ra, thân mình cậu thám báo trượt khỏi lưng ngựa. Chiến mã buồn bã hí lên, cúi đầu liếm mặt chủ nhân.
"Vương!" Thống lĩnh thân vệ chạy đến, tay giữ chặt một ông lão gầy gò, kêu to: "Tìm được rồi!"
Ông lão này đã hơn sáu mươi tuổi, ở thời này có thể sống đến sáu mươi đã coi như là rất thọ. Người ông lão rất gầy nhưng tinh thần vẫn hết sức minh mẫn, có điều dáng vẻ thoạt nhìn hết sức chật vật.
Gia Cát Nguyệt nhìn ông lão từ trên xuống dưới một lượt, từ tốn gật đầu, "Khí sắc tiên sinh nhìn vẫn còn rất tốt, xem ra đủ để chịu được đường xa cực khổ."
"Ngươi... Thanh Hải là đất man di mọi rợ, ăn sống uống tươi, lão phu là người đọc sách, sao có thể..."
Gia Cát Nguyệt dùng đôi mắt sắc bén nhìn sang, giọng không to cũng không nhỏ nhưng ẩn chứa sự uy hiếp kinh người, "Bổn vương đi ngàn dặm nghênh đón, dùng trọng binh mở đường, nhưng xem ra tiên sinh vẫn cảm thấy thành ý của bổn vương chưa đủ?"
Những lời này nghe thì thản nhiên nhưng lại hàm chứa sát khí, khiến Thanh Trúc tiên sinh ngây người tại chỗ.
Thanh Hải xuất binh rời khỏi Thùy Vi Quan, đi xuyên qua nhiều châu quận, dọc đường giết bao nhiêu là người, 'thành ý' như vậy còn ai dám nói không đủ?
"Đưa Thanh Trúc tiên sinh lên xe."
"Dạ."
Cửa thành Mậu Lăng vẫn còn nguyên vẹn, binh lính giữ thành không hề chống cự đã mở cửa cho Thanh Hải quân tiến vào. Cục diện đại lục biến đổi, kỵ binh Bắc Yến tiến vào chiếm giữ kinh thành khiến hoàng tộc Đại Hạ phải lùi về phía bắc. Tuy trên danh nghĩa thì Đại Hạ đã đầu hàng Bắc Yến nhưng thống lĩnh của một số thành nhỏ vẫn là quan viên Đại Hạ khi trước,cho nên đối với Gia Cát Nguyệt từng là Đại tư mã thống lĩnh Bộ binh Đại Hạ trước kia, bọn họ vẫn thấy thân thiết hơn so với ngoại nhân xâm lược Bắc Yến.
Lúc Thanh Hải quân tiến vào thành Mậu Lăng thì dân chúng địa phương còn tưởng rằng quân đội Đại Hạ bắt đầu phản công, rất nhiều nam tử trẻ tuổi cầm đao xin nhập ngũ, dân chúng thậm chí còn lấy lương thực trong nhà ra chiêu đãi quân đội, phố lớn phố nhỏ đều tràn ngập tiếng khua chiêng gõ trống phấn khởi, không hề nhìn ra là một thành trì đang bị vây hãm.
"Vương." Quách Hoài đeo một đại đao khổng lồ trên lưng chạy đến, chùi bụi đất bám trên mặt rồi hỏi to: "Quân Yến sắp đến rồi, chúng ta nên làm sao đây?"
Gia Cát Nguyệt đưa mắt nhìn phía đông nam, mặt không đổi sắc đáp gọn lỏn: "Chiến đấu."
Nghe được hai chữ này, toàn bộ chiến sĩ lập tức hoan hô dậy trời. Bọn họ đều là tinh binh hạng nhất ở Thanh Hải, từ lúc rời khỏi Thùy Vi Quan đều cẩn thận hành sự, gặp địch đều đánh cho có lệ, chủ yếu tìm đường lui để nhanh chóng tiếp tục lên đường, nhịn đến khó chịu sắp chết rồi. Giờ nghe thấy được phép đánh thì ai cũng hưng phấn, tay chân bắt đầu ngứa ngáy.
Đêm xuống thì quân Yến cuối cùng cũng đến, nhưng bọn họ lại chỉ bao vây thành mà không hề tấn công.
Gia Cát Nguyệt biết bọn chúng đang đợi viện quân, viện quân đến thì bên hắn sẽ lâm vào tình thế cực kỳ bất lợi. Thế nên ngay tối hôm đó, quân Yến còn chưa dàn xong trận hình thì đã bị Thanh Hải quân liên tục công phá. Dựa vào thân thủ mạnh mẽ và linh hoạt, Thanh Hải quân đã xé rách vòng vây của quân Yến mở đường thoát ra ngoài. Đội ngũ quân Yến một vạn người này cũng không phải là quân đội chính quy mà chỉ là quân dự bị được điều đến từ mấy thành lân cận, đột ngột gặp phải tinh binh của Thanh Hải thì dĩ nhiên là không thể địch lại.
Sau đó phía tây nam cảnh nội Đại Yến liên tục nổi lên lửa chiến, tốc độ hành quân của Thanh Hải quân nhanh đến không tưởng, tinh binh đóng giữ các vùng lân cận thi nhau chạy tới nhưng chỉ bắt kịp bụi mù do Thanh Hải quân để lại.
Cuối cùng cũng đến được trạm phòng thủ ở núi Thương Minh, qua khỏi dãy núi này sẽ chính là lãnh địa của Thùy Vi Quan thuộc Thanh Hải. Tối hôm trước, các chiến sĩ của Thanh Hải quân đều lôi đao thương ra đánh bóng, chờ đợi trận chiến ác liệt ngày mai.
Gia Cát Nguyệt mặc giáp trụ đứng giữa khoảng trời rộng mênh mông, giơ cao cổ tay, một chú chim trắng như tuyết sà xuống đậu lên cổ tay hắn, ngoan ngoãn giơ cái chân có buộc thư ra.
Trên thư viết đầy chữ khiến người đọc nhìn mà choáng váng, cũng may đều là tin tức bản thân hắn muốn biết. Đọc thêm một lần nữa, hắn mới cất thư vào trong ngực, cảm nhận sự ấm áp những con chữ kia mang đến.
Ai cũng có vảy ngược* của mình, có người là tiền bạc, có người là quyền thế, còn hắn thì là một người.
*Vảy ngược còn gọi là 'nghịch lân', là chiếc vảy mọc ngược chiều của rồng, tương truyền là chỗ yếu nhất trên thân rồng. Thường dùng để chỉ điểm yếu của một người.
Hắn vốn không phải là một người lương thiện, hắn vì nàng cam lòng thu liễm sự sắc bén, nhưng không có nghĩa là hắn sẽ quên mất cách giết người.
Gia Cát Nguyệt từ tốn ngẩng đầu lên, bầu trời đêm thưa thớt sao như gần trong gang tấc, giơ tay liền sẽ chạm tới. Gió từ xa thổi đến mơ hồ mang theo hương vị của Thanh Hải, lòng hắn hiện vô cùng yên bình, tựa như đồng cỏ xanh đang dợn sóng trong gió.
Sang ngày thứ hai, dưới chân núi Thương Minh tập hợp gần tám ngàn binh lính, không giống như quân dự bị chiêu mộ từ quân Hạ khi trước, đây đều là quân chính quy từ Bắc Yến, trưởng thành từ trong mưa đao gió tanh.
Gió ở biên giới luôn rất lạnh, mỗi lần thổi qua hoang nguyên đều khiến cỏ khô bay ngập trời. Các chiến sĩ Thanh Hải dùng vải gấm đen quấn chặt cổ tay, tay lăm lăm đao sắc, lạnh lùng nhìn kẻ địch ở phía đối diện. Sát khí lan tràn khắp chiến trường, ngay cả gió như cũng trở nên lạnh lẽo hơn.
Nhưng ngay lúc chiến ý dâng đến cao trào nhất thì phía địch chợt xuất hiện dao động. Gia Cát Nguyệt ngồi trên lưng ngựa khẽ nhíu mày. Một lát sau, đội quân canh giữ dưới chân núi Thương Minh chậm rãi tách ra hai bên, mở rộng cửa khẩu bày đường cho Thanh Hải quân.
"Bọn chúng làm gì vậy?" Có người nhỏ giọng hỏi.
"Nhất định là bẫy, chó Bắc Yến hẳn muốn đang lừa chúng ta vào tròng."
Đủ loại bình luận thi nhau vang lên.
Gia Cát Nguyệt khẽ nhướng mày nhìn quân Yến trước mặt, vẫn không nói tiếng nào. Thời gian trôi qua trong tình huống kỳ quái như thế, quân Yến im lặng không tiếng động, Thanh Hải quân cũng chẳng nói tiếng nào, chỉ có đồng cỏ cao tận gối là vẫn *rì rào* theo gió.
Gia Cát Nguyệt thúc ngựa tiến lên, vó ngựa đi chậm rãi nhưng hết sức kiên định.
Quách Hoài cuống quít cản ở phía trước, căng thẳng nói: "Vương, cẩn thận có bẫy."
"Bọn họ dám mở cửa khẩu ngay trước mặt bổn vương, chẳng lẽ cả dũng khí tiến lên bổn vương cũng không có?" Gia Cát Nguyệt trầm giọng nói, không hề cao giọng nhưng lại khiến ý chí chiến đấu của tất cả binh sĩ nhất thời tăng vọt. Hắn ngẩng đầu lên, khẽ cười, chỉ kiếm về phía cửa khẩu, nhìn các chiến sĩ Thanh Hải, cất giọng lanh lảnh: "Ai dám cùng bổn vương tiến lên?"
"Có mạt tướng!" Gần như là đồng thời, toàn bộ Thanh Hải quân đều hô to, âm thanh như sấm rúng động cả một vùng.
Ba ngàn chiến sĩ Thanh Hải quân thúc ngựa theo sau Gia Cát Nguyệt, cứ như thế xông thẳng về phía cửa khẩu rộng lớn.
Một ngàn trượng, năm trăm trượng, ba trăm trượng, khoảng cách càng lúc càng ngắn, gần đến mức có thể nhìn thấy rõ mặt mũi của binh sĩ quân Yến, nếm được sát khí cùng chiến ý của bọn họ. Thế nhưng, không một ai rút đao, không hề có tiếng hô tiến công. Đội ngũ Thanh Hải quân cứ thế ào qua cửa khẩu núi Thương Minh vốn phải đổ bao nhiêu máu mới có thể vượt qua này.
*Một trượng = 1.7 mét
Cửa khẩu nặng nề chậm rãi được khép lại sau khi Thanh Hải quân băng qua, chiến kỳ hắc ưng bay phấp phới trên cổng thành cao ngất tựa như ánh mắt ai đó đang nhìn theo bọn họ đi xa dần.
Gia Cát Nguyệt im lặng nhìn thoáng qua lá cờ hình hắc ưng, sau đó quay đầu ngựa nói với Quách Hoài: "Truyền tin bảo Nguyệt Thất dẫn nhân mã trở về."
Quách Hoài hơi sửng sốt, để phối hợp với lần hành động này, tướng quân Nguyệt Thất và tướng quân Hạ Tiêu đã dẫn ba vạn tử sĩ xâm nhập lân cận thành Chân Hoàng từ trước, chỉ chờ bên này có biến thì sẽ lập tức tấn công nhằm phân tán binh lực của quân Yến. Bây giờ bảo bọn họ cứ thể trở về, chẳng phải đã uổng công bố trí rồi sao?
Thắc mắc nhưng Quách Hoài cũng không nói gì, chỉ nhanh chóng lệnh cho thuộc hạ làm theo.
Bầu trời phía trước xanh thăm thẳm, Thanh Hải đã ở trong tầm mắt.
.................................................................................................
Đại phu vừa lui ra thì Gia Cát Nguyệt cũng vừa đến, đại điện xây bằng gỗ thông nên ngập trong hương thông dễ chịu, hắn tiện tay phất tay cho thị nữ lui ra rồi đi thẳng đến ngồi xuống bên mép giường.
Nàng gầy đi nhiều, khiến đôi mắt vốn đã to nay còn to hơn. Trước khi hắn đi, tiểu tử Lương Thiếu Khanh có đến thăm bọn họ, nhìn thấy thì lập tức mở miệng chê nàng giống hệt một con khỉ rừng ốm o mắt bự chảng. Nàng tức giận cầm gối muốn ném tiểu tử kia, nhưng ngay cả gối cũng ném không nổi.
Nàng ngủ thiêm thiếp, hô hấp rất đều đặn, có lẽ là vừa uống thuốc xong. Cũng chẳng rõ có phải là tác dụng tâm lý hay không, nhưng hắn cảm thấy qua tay lão đại phu nọ, khí sắc của nàng đã khá hơn rất nhiều.
Không ngừng chém giết, đổ máu suốt hành trình, lên đường mà lòng như lửa đốt, đêm ngủ không yên, tất cả những điều đó bây giờ đều đã chuyển thành sự vui mừng và an ủi tận đáy lòng.
Thật may...
Gia Cát Nguyệt im lặng thở dài, thừa nhận nỗi sợ hãi mà khi ở bên bờ vực của cái chết hắn cũng chưa bao giờ cảm nhận được.
May mà mọi thứ đều ổn.
Đứa trẻ sơ sinh nằm bên cạnh đột nhiên phát ra tiếng *ê a* thật nhỏ, Gia Cát Nguyệt quay đầu sang, đứa trẻ kia đang nghẹo cổ, mở to mắt nhìn hắn chằm chằm, tròng mắt vừa đen như mực vừa tròn xoe như quả nho. Trẻ sơ sinh cổ còn rất mềm, đầu không thể cử động nhưng hai nắm tay tí xíu lại nắm rất chặt, nhìn rất có lực. Cậu bé hơi nhíu hàng mày còn chưa mọc, vô cùng nghiêm túc nhìn người lạ đang lén lút bên giường mẹ mình.
Gia Cát Nguyệt và con trai hai mặt nhìn nhau, nhất thời cảm thấy hơi kỳ quái. Nam nhân lần đầu làm cha không chút kinh nghiệm, thậm chí không biết nên dùng vẻ mặt gì nhìn con mình, cuối cùng chỉ có thể giơ một ngón tay đặt lên miệng, ra hiệu cho cậu bé nhỏ tiếng, kẻo đánh thức Sở Kiều.
Trẻ con sơ sinh làm gì hiểu được hành động ấy, có lẽ là bắt chước theo bản năng mà cũng có lẽ là do đói bụng, cậu bé hết sức tự nhiên giơ ngón tay tí hon nhét vào miệng mình.
Gia Cát Nguyệt cau mày. Thói quen gì thế này? Thật mất vệ sinh.
Nghĩ vậy nên hắn liền giơ tay kéo tay con trai ra không cho ngậm nữa, sau đó còn ném cho cậu bé một ánh mắt đầy ý cảnh cáo.
Trẻ con mới sinh không biết gì nhưng vẫn có thể nhạy cảm phân biệt thái độ của người khác đối với mình. Thế cho nên chưa đầy một giây sau, tiểu thế tử của Thanh Hải vô cùng bất mãn mở cái miệng bé xíu, phát ra một tiếng khóc rống như muốn xuyên thủng tai người khác.
Ngay tức khắc, nha hoàn, thị nữ, nhũ mẫu, hạ nhân, đại phu, tất cả đều như chim vỡ tổ, lập tức ùa ra từ khắp nơi trong điện, ngay cả Sở Kiều đang ngủ say cũng giật mình tỉnh giấc, ngồi bật dậy.
"Sao vậy?"
"Tiểu thế tử tè sao?"
"Mau gọi đại phu."
"Tiểu điện hạ ngoan chớ khóc, nhìn xem đây là gì nào?"
Một đám hạ nhân không hề kiêng kỵ xô nam nhân nào đó sang một bên. Tầm mắt của đứa trẻ đảo một vòng khắp đám đông, cuối cùng dừng lại trên mặt mẫu thân, cậu bé lập tức mếu miệng, giơ hai cánh tay nhỏ mũm mĩm ra, khóc tấm tức như đang hết sức uất ức.
Sở Kiều ôm con trai vào lòng, nhìn một vòng thì mới chú ý đến nam nhân nào đó đã lâu không gặp, lập tức cau mày, tức giận nói: "Chàng bắt nạt con!"
"Ta nào có." Gia Cát Nguyệt lên tiếng phủ nhận, vừa nói vừa dợm chân định tiến tới. Nhưng dường như muốn chứng minh hắn vừa nói dối, đứa bé nhìn thấy hắn đến gần thì càng khóc lớn tiếng hơn.
"Còn nói không có?" Sở Kiều nhìn Gia Cát Nguyệt chằm chằm, "Chàng lớn như vậy mà lại đi bắt nạt con nít."
Gia Cát Nguyệt giận sôi máu, thằng nhóc này rốt cuộc có phải là con của hắn không vậy? Nhìn đứa bé đang cọ hết nước mắt nước mũi vào cổ áo trắng tinh của Sở Kiều thì hắn càng thêm bực. Gì đây? Hắn vào sinh ra tử chạy ngàn dặm tìm đại phu cho hai mẹ con bọn họ, vậy mà lại bị đối xử như vậy?
"Vương, người ngài đầy cát bụi, đại phu bảo ngài ra ngoài trước đi."
Gia Cát Nguyệt trừng to mắt khiến tiểu nha hoàn vừa lên tiếng sợ đến suýt ngất. Nhưng trợn mắt một hồi, hắn rốt cuộc vẫn phải hầm hầm mặc cho lão đại phu thù dai kia đuổi mình ra khỏi cửa của chính nhà mình.
Bên này Gia Cát Nguyệt còn chưa xả được lửa giận thì bên kia lại xuất hiện một nam tử áo trắng dáng vẻ thư sinh hớt hải chạy vào điện. Thư sinh vô cùng nghiêm chỉnh hành lễ trước rồi mới nói: "Vương, nhận được thư của ta chưa? Đồng ý gả nàng ấy cho ta chứ?"
Gia Cát Nguyệt nhìn thấy thư sinh thì càng thêm bực bội, cau mày quăng ra một câu: "Hôn lễ của Mông Phong và Hạ tướng quân đã ở trước mắt rồi, ngươi đừng quậy nữa."
"Sao thế được?" Lương Thiếu Khanh không cam lòng kêu to: "Nói đến thời gian thì ta quen biết Mông Phong tướng quân trước cả Hạ tướng quân. Nói đến học thức thì ta bụng đầy văn chương lại tài hoa hơn người, nói đến xứng đôi, hai người chúng ta một văn một võ, có thể nói là song kiếm hợp bích, nói đến..."
"Người đâu, lôi gã điên này xuống cho ta."
Hai đại hán vạm vỡ lập tức tiến lên, thư sinh 'tài hoa hơn người' nọ liền dùng hết sức giằng ra, bi thương gào to: "Vương, làm người không thể qua cầu rút ván! Năm đó ta mới là người trong lòng Kiều Kiều, do ta tốt bụng rút lui nên ngài mới có cơ hội tiến tới đấy! Vương, ngài đường đường là tôn sư một cõi, sao có thể rút ván sàn nhà ta đưa cho người khác như vậy? Chẳng ra thể thống gì hết, không thể chấp nhận được..."
"Ối, tiểu thế tử tè rồi!"
"Mau lấy tã, nhũ mẫu, hình như tiểu thế tử đói rồi."
...
Trong điện ngoài điện nhất thời trở nên hỗn loạn, bọn hạ nhân liên tục ra ra vào vào, chẳng ai buồn liếc mắt đến nam chủ nhân lấy một cái.
Thanh Hải vương vừa thắng trận trở về hết sức buồn bực, mặt đen thui ngồi một ngóc, cảm thấy hiện thực quả thật cách tưởng tượng của mình xa tít mù.
Khung cảnh vốn phải là thế này, con trai ngoan ngoãn, thê tử dịu dàng, thuộc hạ sùng bái đứng ở dưới nhìn lên hắn ngồi trên lưng ngựa, kích động đến rơi lệ đầy mặt, to giọng ca ngợi chiến công của hắn.
Phải là thế chứ không phải như bây giờ, con trai chỉ biết ngoác miệng gào khóc với ngậm tay, thê tử trong mắt chỉ có con, thuộc hạ cũng không khá hơn là bao, liên tục tru tréo muốn cướp vợ người khác.
Nhưng hắn cũng chỉ có thể thở dài, tiếp tục gặm nhấm nỗi buồn bực.
"Mai Hương tỷ, lấy cái tã nào cho tiểu điện hạ bây giờ, màu xanh ngọc hay màu vàng nhạt?"
"Tiểu thư, tiểu điện hạ ọc sữa, có phải bú nhiều quá rồi không?"
"Ôi, vương, ngài đứng lên một chút được không? Người đang ngồi lên đồ chơi của tiểu điện hạ..."
...
Ai cũng có vảy ngược của mình, có người là tiền bạc, có người là quyền thế, còn hắn thì là hai người.
Phiên Ngoại 8: Thanh Hải
—Thanh Hải là một vùng đất có diện tích rộng lớn, chưa từng đặt chân đến thì sẽ không bao giờ tưởng tượng được ẩn dưới vẻ ngoài rừng thiêng nước độc kia lại chính là một thiên đường lộng lẫy như vậy—
Gió thổi về phía đông, cách nơi này hai trăm tám mươi dặm chính là Thùy Vi Quan sừng sững cao ngất, được bao quanh bởi dãy núi trùng điệp.
Gia Cát Nguyệt thúc ngựa đi đầu, theo sau là hơn trăm chiến mã, thống lĩnh thân vệ Quách Hoài dẫn hai mươi binh sĩ đi sau cùng, hai đầu hộ tống mười mấy cỗ xe ngựa bọc vải xanh ở giữa. Gió thổi qua mang theo mùi đất mới, lại một năm trôi qua, xuân về hoa nở, Thanh Hải hiện tại ngập trong muôn hoa khoe sắc.
Đoàn người cuối cùng cũng đến được cửa khẩu, binh sĩ canh gác đã nhận được tin từ trước, nhìn thấy Gia Cát Nguyệt thì lập tức cung kính hành lễ rồi mở cửa.
Gia Cát Nguyệt quay sang một cỗ xe ngựa, lẳng lặng nói: "Tam thúc, thứ cho ta không thể tiếp tục đưa tiễn."
Màn cửa của cỗ xe được vén lên, để lộ một khuôn mặt già nua nhưng vẫn còn nhìn ra vẻ tuấn tú khi trẻ. Có điều chủ nhân của khuôn mặt này lại đang chau mày buồn bã, trong mắt đầy vẻ ảo não. Ông ngẩng đầu lên, cố cầu khẩn một lần cuối: "Tứ Nhi, là do Tam thúc hồ đồ, có thể tha thứ cho Tam thúc lần này không?"
Gia Cát Nguyệt im lặng không lên tiếng, chỉ lạnh nhạt nhìn ông, ánh mắt bình thản nhưng lại rét buốt như mặt hồ đóng băng, không chứa đựng chút cảm xúc nào.
Người nọ vẫn tiếp tục van nài: "Đại Hạ đã diệt vong, mấy đại ca đã theo Thất điện hạ đến phương bắc, hiện giờ hạ du Hồng Xuyên đều nằm trong tay tên Yến Tuân lang sói kia, ngươi bảo ta trở về như vậy, ta biết làm sao đây?"
"Đó là chuyện của Tam thúc, không liên quan đến ta."
Người nọ đã chực rơi lệ, nhanh chóng quỳ xuống, bi thương nói: "Tứ Nhi, là Tam thúc không tốt, là Tam thúc bị ma quỷ dẫn đường. Nhưng Tam thúc cũng vì thấy ngươi ít con nối dõi nên mới có ý định gả Vấn Nhi cho ngươi, ta không hề có ác ý đối với vợ ngươi, ta chỉ..."
Người nọ còn chưa nói xong thì Gia Cát Nguyệt đã quay đầu ngựa, lưng vẫn thẳng tắp như trường thương, không hề có chút do dự nào.
Người nọ cả kinh, lập tức nói to: "Ta chỉ nghĩ chứ không hề làm gì cả!"
"Nghĩ cũng không được." Giọng nói điềm tĩnh của Gia Cát Nguyệt quanh quẩn trong gió, tựa như chiếc lá trôi lững lờ theo dòng nước, "Đó chính là vợ và con của ta, cho dù chỉ nghĩ trong đầu cũng không được."
Một chú chim lông trắng toát từ hướng Thanh Hải bay ngang qua bình nguyên, mỏ còn ngậm một nhánh cây, dường như là để xây tổ an cư.
"Quách Hoài, đưa bọn họ ra ngoài đi."
Cửa khẩu mở rộng, hồi lâu sau lại lặng lẽ khép kín. Gia Cát Nguyệt không nói lời nào dẫn đội ngũ quay trở về, tiếng vó ngựa đều đặn, tiếng gia súc vui vẻ gặm cỏ non mới mọc, tiếng chim lãng đãng trên không, tất cả hợp thành một khung cảnh yên bình.
Đây chính là Thanh Hải, là nhà của Gia Cát Nguyệt hắn, là mảnh đất hắn đã dốc hết lòng vun trồng, tất nhiên hắn sẽ bảo vệ nó bằng mọi giá, sẽ không dung tình diệt trừ bất kỳ kẻ nào muốn phá hoại nơi này, dẫu đó chỉ là ý định manh nha trong đầu đi chăng nữa.
Phía trước đột nhiên vọng lại tiếng vó ngựa hối hả, Gia Cát Nguyệt ngẩng đầu lên, một bóng dáng vàng nhạt đang thúc ngựa chạy lại gần.
Sở Kiều ghìm chặt cương ngựa, quay đầu nhìn về phía cửa khẩu rồi cau mày hỏi: "Tam thúc của chàng đi rồi?"
Gia Cát Nguyệt gật đầu, "Ừ."
"Tại sao không báo trước để ta cùng chàng đi tiễn?"
Gia Cát Nguyệt cười nói: "Ông ta nhớ nhà muốn trở về, phiền đến nàng làm gì?"
Sở Kiều vẫn cau mày, "Ông ấy là trưởng bối của chàng, ta không đi tiễn thì rất khó coi."
"Khó coi gì chứ?" Gia Cát Nguyệt gạt ngang, tiếp tục thúc ngựa đi, "Ta có thân thiết với ông ta đâu."
Có nói nữa thì cũng đã không tới tiễn rồi, Sở Kiều bất đắc dĩ thở dài một hơi rồi mím môi nói: "Là do chàng không cho ta đưa tiễn đấy, sau này chớ trách ta không biết giữ thể diện cho chàng."
Hai người vừa nói chuyện vừa thúc ngựa đi song song. Con đường núi thẳng tắp, hai bên đường phủ kín cỏ hoa, tỏa ra hương thơm nồng nàn. Đây là sơn đạo duy nhất thông giữa Thanh Hải và Thùy Vi Quan, muốn đến đại lục thì nhất định phải đi qua đây. Hiện tại thế cục trên đại lục đã định, Bắc Yến làm chủ khu vực phía đông sông Hồng Xuyên, nội chiến ở Biện Đường đã được bình ổn, Hoài Tống trở thành chư hầu của Đại Yến. Chính trị ổn định nên giao thương cũng bắt đầu phát triển, Thanh Hải và Biện Đường thành lập mạng lưới thông thương mua bán nên con đường này dần trở nên vô cùng náo nhiệt, mới đi một lát đã gặp được hơn mười thương đội đi ngang qua.
Gia Cát Nguyệt và Sở Kiều đều mặc thường phục, thị vệ theo sau cũng không hề khoác giáp nên thoạt nhìn chỉ giống như thường dân ra ngoài du ngoạn.
Đi thêm một quãng, phía trước chợt vang lên tiếng chiêng trống hết sức náo nhiệt, đến gần hơn thì nhận ra đó là một đoàn rước dâu. Ngựa trắng kiệu đỏ, người cầm kèn người thổi sáo, kéo thành một đường dài rồng rắn.
Gia Cát Nguyệt cười nói: "Hôm nay đúng là ngày tốt, vừa ra cửa liền gặp được chuyện vui." Dứt lời thì ra lệnh cho đám người Quách Hoài nép sang một bên.
Đoàn rước dâu đến gần, tân lang cưỡi ngựa, dáng vẻ hết sức đường hoàng, từ xa đã chắp tay cảm ơn Gia Cát Nguyệt vì đã nhường đường. Gia Cát Nguyệt cũng mỉm cười, gật đầu đáp lại.
Sở Kiều nhìn đoàn rước dâu kia, không tự chủ chợt thất thần. Nhớ lại thời điểm nàng cũng từng ngồi trên vương liễn, bụng đã to vượt mặt, cùng đội cổ nhạc đi qua con đường khi đó vừa mới xây xong này.
Theo phong tục ở đây thì phụ nữ mang thai xuất giá sẽ khó tránh khỏi bị bàn tán này nọ, nhưng Gia Cát Nguyệt vẫn khăng khăng đòi phải cho nàng một danh phận chính thức trước khi con của hai người chào đời. Vì vậy, nàng đã trở thành vị tân nương đầu tiên phá bỏ mọi lề lối, mặc hỉ phục rộng thùng thình, bụng mang dạ chửa ngồi trên vương liễn đường hoàng tiến qua cửa tòa cung điện tráng lệ được xây dành riêng cho nàng.
Đời người luôn có rất nhiều chuyện kỳ quái, mầm cây ngươi ra sức vun trồng chưa hẳn sẽ nhất định trưởng thành. Nhưng cành khô ngươi chỉ tùy ý cắm đại lại có thể đâm chồi sinh trưởng xanh tốt, chặt mãi cũng không hết.
Hôm đó, trên đài Ngô Đồng, nàng vai quàng khăn, đầu đội mũ phượng, trước sự chứng kiến của tất cả mọi người trở thành thê tử của chàng. Lụa trải đầy đường, châu ngọc chói lóa, chàng đã dùng tâm huyết nửa đời để tổ chức cho nàng một hôn lễ long trọng nhất, biến mảnh đất vốn hoang vu cằn cỗi này trở thành mái ấm cho nàng.
Lúc hai người cúi đầu bái đường, trong lòng nàng tràn đầy cảm kích, nàng cả đời này chưa từng tin thần tin phật nhưng cuối cùng lại được thần phật phù hộ. Sau ngần ấy gian nan, ngần ấy lần đứng trước cửa tử, nàng cuối cùng lại được trời ban cho một vị phu quân mà phụ nữ trên đời này ai cũng đều mong ước có được.
Nam nhân như chàng xứng đáng để tất cả phụ nữ trên đời dùng hết nửa đời còn lại một lòng một dạ yêu thương.
Và trong hàng vạn hàng ngàn người, nàng chính là người may mắn nhất.
Đêm tân hôn, trong gian phòng tràn ngập ánh nến đỏ, chàng giúp nàng tháo trâm cài, hai người nhìn nhau, cảm thấy quãng đường vừa trải qua quả thật rất dài, nhưng bọn họ cuối cùng cũng có được ngày này. Tựa như gió ở Thanh Hải, đi một vòng lớn, thổi qua khắp nơi, nhưng cuối cùng vẫn trở về nơi này."Tinh Nhi?" Gia Cát Nguyệt nhíu mày gọi: "Thất thần cái gì thế?"
Sở Kiều hồi hồn, quay lại cười nói: "Nghĩ đến hôn lễ của chúng ta, hình như lúc đó chàng không có cưỡi ngựa tới đón ta."
Gia Cát Nguyệt đưa mắt nhìn đội đón dâu đã dần đi xa, ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu, "Ừ nhỉ, bằng không chúng ta tổ chức lại lần nữa nhé?"
"Được thôi, ta không có ý kiến."
Hai người vừa cười đùa vừa đi, chỉ lát sau thì đã trở về thành Thu Diệp, theo cửa sau tiến vào cung Tinh Nguyệt.
Có điều vừa đến điện Thái Hòa thì đã nghe bên trong vọng ra tiếng ồn, nội thị đang định lên tiếng thông báo thì Gia Cát Nguyệt đã phất tay ngăn cản, cau mày đi thẳng vào trong.
Không ngoài dự đoán, hạ nhân bên trong đều thấp thỏm đứng một bên, con trai của hắn thì đang ì ạch lôi túi đồ của mình đi vào nội phòng, trước bệ cửa còn có gối chăn của 'người nào đó' nằm la liệt, rõ ràng là vừa bị vứt ra.
"Châu Nhi, làm gì vậy hả?"
Đứa bé trai khoảng ba tuổi rưỡi nghe tiếng Gia Cát Nguyệt thì giật bắn mình, lập tức ngồi *phịch* xuống đất, e dè quay đầu lại, hai tay bịt kín mặt, liếc mắt nhìn qua kẽ tay, đập vào tầm mắt quả nhiên chính là khuôn mặt đen thui của cha mình.
Cùng đã làm rồi, còn bị bắt tại trận nữa, phân bua sao cũng vô dụng.
Gia Cát Vân Châu cùi không sợ lở, đường hoàng đứng dậy ưỡn cái bụng nhỏ, lớn tiếng nói: "Châu Nhi đang dọn nhà!"
"Dọn nhà?"
Cậu bé đáp bằng giọng điệu rất chính đáng: "Cha năm ngày, Châu Nhi năm ngày, hôm nay đã hết năm ngày rồi."
Gia Cát Nguyệt cảm thấy đầu như muốn phình gấp đôi, đúng vậy, lúc trước hắn đúng từng nói thế. Hắn và Sở Kiều bình thường rất tháo vát giỏi giang, nhưng sau khi sinh con ra lại phạm phải sai lầm cực lớn, cưng chiều con đến mức thằng nhóc coi trời bằng vung. Trước hai tuổi, cậu nhóc luôn ngủ cùng Gia Cát Nguyệt và Sở Kiều, khi đó thì không sao, nhưng dạo gần đây lại bắt đầu nảy sinh bất tiện. Ví như khi đêm khuya yên tĩnh, gió nhẹ vi vu, mỗi lần hai người Gia Cát Nguyệt và Sở Kiều muốn làm ít vận động có lợi cho người trưởng thành, bên cạnh đều có một đứa nhóc tai còn thính hơn tai thỏ mở to mắt nhìn sang, khổ sao cũng không nói hết.
Gia Cát Nguyệt cuối cùng cũng không nhịn được nữa, lập ra giao kèo với con trai, hai cha con phân điện, mỗi người chiếm lấy Sở Kiều năm ngày, nhờ vậy mà hoạt động tiêu dao mỗi tối mới tạm thời không bị gián đoạn.
Đáng tiếc, từ đó trở đi, độ tin tưởng mà Gia Cát Vân Châu dành cho cha mình càng lúc càng giảm sút một cách thê thảm, bởi vì cứ năm ba ngày thì người này sẽ dùng đủ loại lý do không chịu trả mẹ lại cho cậu bé. Thế nên bụng tức của tiểu thế tử Thanh Hải càng lúc càng lớn. Gì đây? Khinh thường cậu nhỏ tuổi nói chẳng ai nghe đúng không? Mẹ từng dạy, muốn gì thì phải tự mình động thủ, núi không tới đây thì cậu dọn tới với núi vậy, cha không chuyển ra thì cậu sẽ chuyển vào, làm gì nhau nào.
Vì vậy nhân dịp hôm nay Gia Cát Nguyệt phải ra ngoài có việc, Gia Cát Vân Châu lập tức hăng hái thu dọn toàn bộ vật dụng riêng chuyển vào tẩm điện của Sở Kiều, thậm chí còn vứt gối của Gia Cát Nguyệt ra ngoài để tỏ rõ quyết tâm của mình.
"Ừm..." Gia Cát Nguyệt bắt đầu hạ giọng dỗ dành: "Châu Nhi, con đã trưởng thành, phải học để trở thành một nam tử hán, không thể lúc nào cũng bám lấy mẹ, có biết không?"
Tiểu Gia Cát ngước lên, chớp chớp mắt nhìn cha mình.
Gia Cát Nguyệt còn tưởng mình đã thuyết giáo thành công thì vội vàng mặt dày rèn sắt ngay khi còn nóng: "Phụ thân lúc bằng con đã có thể giương cung cưỡi ngựa, thông hiểu thi thư rồi. Con phải để tâm vào chuyện chính đáng hơn, đừng ngày nào cũng nghĩ tới mấy chuyện vặt vãnh này nữa, có hiểu không?"
Tiểu Gia Cát gật đầu, khôn khéo đáp: "Hiểu ạ."
Gia Cát Nguyệt mừng hết lớn, quả đúng là con trai hắn, thật thông minh.
"Nhưng con vẫn thích làm chuyện vặt vãnh." Nói xong, nhìn thấy Sở Kiều đi vào, Tiểu Gia Cát lập tức giơ hai bàn tay đỏ ửng ra, phụng phịu nói to: "Mẹ, Châu Nhi đau tay quá, mệt nữa."
Sở Kiều nhìn bộ dáng đáng thương của con trai bảo bối thì bao nhiêu tinh thần sắt đá luyện được từ chiến trường đều nhũn ra thành nước, lập tức tiến tới chỉ huy hạ nhân giúp cậu bé chuyển dời đồ đạc.
Gia Cát Nguyệt đứng đó, trơ mắt nhìn vợ trở mặt chỉ trong một cái nháy mắt thì trong lòng thê lương như lá rụng mùa thu.
Đến nửa đêm.
Người nào đó rón rén bò dậy, mặc y phục vào rồi ra khỏi điện.
Người thập thò bên ngoài thò đầu vào, đắc ý hỏi: "Ngủ rồi?"
"Ừ." Sở Kiều gật đầu, "Mau lên, đi thôi, sáng mai còn phải dậy sớm trở lại."
"Thằng nhóc chết tiệt, dám tranh với ta."
"Nhỏ tiếng một chút, thằng bé rất thính tai."
Trong màn đêm tối như mực, một cái đầu nhỏ thò ra ngoài cửa sổ nhìn theo hai bóng người đi song song, bi thương thở dài, "Mẹ phản bội Châu Nhi về phe cha nhé."
Thanh Hải rất lâu về trước không được gọi là Thanh Hải, khi đó đây vẫn là một địa phương vô danh. Mãi về sau, có người tìm đến, nhìn thấy nơi này cỏ xanh trải dài như biển, trời đất bao la thì mới gọi là Thanh Hải.
Gia Cát Vân Châu trước kia không phải tên là Gia Cát Vân Châu, cậu bé vốn tên Gia Cát Khổng Minh, về sau mẹ cậu bé nằm mơ bị một ông già cầm quạt dẫn lôi công tới đòi đánh nên mới sửa tên cho cậu bé.
Cung Tinh Nguyệt trước kia không phải như bây giờ, nơi này là một khu đất cằn cỗi hoang tàn, về sau có một gia đình đến đây mới xây dựng một cung điện thật to, bắt đầu một cuộc sống yên bình.
Phải là quân nhân rời khỏi chiến trường quyết liệt trở lại với cuộc sống bình thường, không còn cảm giác phập phồng như đi thuyền trong bão lớn nữa thì ngươi mới có thể cảm nhận được cuộc sống bình thường hạnh phúc và quý giá đến nhường nào.
Phiên Ngoại 9: Trân Châu
—Ta muốn làm một con trai ngọc, tất cả thời gian và máu thịt của bản thân chỉ dùng để che chở cho hạt châu trong lòng—
Nửa đêm trời không gió nhưng lại đột nhiên đổ tuyết, bông tuyết rơi lãng đãng khắp không trung. Chỉ sau một đêm mà mai đã nở hồng cả vườn, vô cùng rực rỡ.
Giữa khuya Mai Hương vào điện bỏ thêm than vào chậu, thoáng nhìn thấy Sở Kiều ngồi trên giường thì không khỏi kinh ngạc, tiến đến hỏi nhỏ: "Tiểu thư làm sao vậy?"
Sở Kiều mặc áo ngủ bằng vải bông trắng, mái tóc dài đen rũ xuống trên lưng óng mượt như lụa, ánh mắt thất thần, sắc mặt tái nhợt, nàng nhẹ lắc đầu, khẽ nói: "Đột nhiên có hơi hoảng hốt không yên."
Mai Hương nghe thấy thì cười khẽ, trêu nàng: "Tứ thiếu gia mới đi có hai ngày mà tiểu thư đã tương tư đêm ngủ không được rồi?"
Gia Cát Nguyệt bây giờ dùng thân phận thần tử Đại Hạ cai quản Thanh Hải, nhận Triệu Triệt đóng ở phương bắc làm chủ, vì thế tính trên tôn vị thì hắn vẫn là phiên vương, còn Sở Kiều là vương phi. Mai Hương theo Sở Kiều đã lâu nên đến giờ vẫn không đổi cách xưng hô.
Sở Kiều phì cười mắng nhẹ một câu rồi cho Mai Hương lui xuống.
Màn lụa đong đưa, ánh đèn mông lung, không có chàng, gian phòng này dường như trống trải hơn rất nhiều.
Sở Kiều hồi tưởng lại giấc mộng vừa thấy, cô gái trong mơ có bóng dáng mảnh khảnh, sắc mặt tái nhợt, khóe môi mang nụ cười điềm đạm trang nhã. Cô gái ấy mặc y phục tuyền trắng, cứ thế đứng giữa đình viện bằng ngói đỏ lẳng lặng nhìn nàng, phía sau hoa lê nở trắng trời, rơi lả tả theo từng trận gió.
Đêm khuya lạnh lẽo, bên ngoài chợt nổi gió chẳng rõ từ khi nào, bông tuyết luồn qua các kẽ thông gió bay vào phòng kêu *sàn sạt*.
Sở Kiều im lặng nhìn ra ngoài cửa sổ, một cảm giác chua xót dâng lên từ đáy lòng, không rõ vì sao mà cũng chẳng biết là vì ai.
Đó là một đêm đầu tháng 12, Gia Cát Nguyệt đi quận Cung Việt xử lý quân vụ đã được hai ngày. Trong cung Tinh Nguyệt, Sở Kiều ngủ nằm mơ thấy một cô gái xa lạ im lặng đứng bên ngoài cửa sổ phòng nàng hồi lâu mới rời đi.
Nửa tháng sau, Gia Cát Nguyệt mới mệt mỏi phong trần trở về từ quận Cung Việt.
Gia Cát Vân Châu chau hàng mày nhỏ, còn chưa xuống xe đã nhanh nhảu tố khổ với mẹ mình bằng giọng điệu hết sức uất ức: "Châu Nhi không bao giờ ra ngoài với phụ vương nữa đâu, lên đường suốt không chịu nghỉ, mệt chết đi được, không vui chút nào hết."
Lý Thanh Vinh năm nay đã tám tuổi, càng lớn càng giống Lý Sách, cũng thích mặc màu sắc rực rỡ, phong thái cử chỉ hệt phụ thân mình. Cậu bé tựa mình vào trụ đá trước cửa cung ngáp ngắn ngáp dài, đuôi mắt hoa đào khẽ nhướng, miệng lầm bầm: "Đã nói trước mà không chịu tin, là tự đệ một mực muốn đòi theo đấy thôi."
Sở Kiều không buồn để ý đến lời của hai cậu bé, chỉ tươi cười đi tới phủi bụi đất trên áo Gia Cát Nguyệt, "Đi đường có mệt lắm không?"
Gia Cát Nguyệt ôm lấy eo Sở Kiều, âu yếm hôn lên má nàng: "Vẫn ổn."
Gia Cát Vân Châu chán nản thở dài, thấy không ai đoái hoài đến mình thì chỉ có thể nhún cặp chân nhỏ leo xuống khỏi xe ngựa, vừa leo vừa than vãn: "Vật đổi sao dời, lòng người đúng thực khó dò, cùng là người thân nhưng đối xử phân biệt quá mà."
Lý Thanh Vinh thì bày bộ dạng uể oải không thèm nhìn, một tay che mắt một tay phẩy phẩy, chuẩn bị vào trong.
Tối hôm đó cung Tinh Nguyệt tổ chức tiệc mừng hết sức long trọng. Mỹ thực được mang lên liên tục, ca múa náo nhiệt, tiếng đàn sáo du dương, cung nhân ra vào như nước, các quan viên thân tín đều dẫn theo gia quyến cùng dự tiệc, khung cảnh buổi tiệc vô cùng vui vẻ ấm áp.
Gia Cát Nguyệt liếc nhìn ra bên ngoài, bão tuyết *vù vù* trắng trời khiến hàng mai ngả nghiêng, mưa cánh hoa cuộn tròn như tay áo của tiên tử đang bay múa. Rượu vào thì tinh thần cũng hưng phấn hơn, hắn bị thuộc hạ trêu ghẹo rằng ra ngoài mà tâm trí luôn đặt ở nhà thì cũng chỉ trừng to mắt như muốn nói: chờ bổn vương tìm ngươi tính sổ đi.
Tối hôm đó, rượu tàn tiệc tan, cửa tẩm cung khép chặt, sau màn lụa là một màn nóng bỏng, da thịt cận kề quấn quýt không ngừng. Sau khi mây mưa tan đi, Gia Cát Nguyệt hôn nhẹ lên vành tai của Sở Kiều, nói nhỏ bên tai nàng: "Tinh Nhi, Nạp Lan hoàng hậu đã mất."
Mất rồi?
Trong một thoáng, thần trí Sở Kiều vẫn còn mông lung, nàng tựa vào vòm ngực ấm áp của Gia Cát Nguyệt, lơ mơ tự hỏi: Nạp Lan hoàng hậu? Nạp Lan hoàng hậu nào?
"Nghe nói là mất vì bệnh, đã gần nửa tháng rồi. Lúc biết tin ta rất sợ, nhớ đến nàng bệnh khi trước thì càng nóng lòng muốn mau trở về." Gia Cát Nguyệt nhẹ giọng thì thầm, đưa tay ra sau tấm lưng nhẵn mịn của Sở Kiều vuốt ve một lúc rồi siết chặt vòng tay, như muốn khảm thân thể nàng vào người mình.
Sở Kiều nghe nói thì dần trở nên cứng ngắc, hàn khí từ đầu ngón tay chậm rãi len vào người, lạnh lẽo như nước giếng mùa đông trên cao nguyên Bắc Yến, đủ đông cứng thần kinh con người. Ngoài cửa sổ gió thổi *vù vù*, một gốc mai kế bên ô cửa chao đảo trong gió, tựa như bóng lưng mảnh mai của một thiếu nữ.
Nàng đột nhiên nhớ lại cái buổi tối giật mình tỉnh giấc giữa đêm kia, trời lạnh nhưng cả người nàng dầm dề mồ hôi lạnh. Đã gần nửa tháng nên nàng đã quên dáng vẻ cùng y phục của người nọ, nhưng ánh mắt trầm tĩnh và thản nhiên kia vẫn in rõ trong tâm trí nàng. Đôi mắt đó tựa như áng mây tự do tự tại phiêu đãng giữa trời, nhưng lại như có thể xuyên qua người nàng nhìn thấu tâm can.
Nàng nhớ được, dáng vóc người nọ rất gầy, vạt áo bị gió thổi tung, hoa lê rơi lả tả trong gió, phủ trắng mặt đất.
Hai người chưa từng gặp mặt nhau, cả đời này chỉ có một lần số mạng giao thoa, và cũng chính là một lần vô tình nhìn thoáng qua.
Nét bút ngả nghiêng trên chất giấy thấm đẫm hương thơm, nước mắt thương tâm của thiếu nữ rơi từng giọt xuống trên giấy khiến nét bút nhạt nhòa.
Âm sai dương thác, nỗi đau của người đó không ai nhận ra ngoài nàng, chỉ một lúc vô tình nàng lại nhìn thấy vết thương mãi không thể lành của người con gái cao quý vô hạn kia.
Núi có cây, cây có lá. Trong lòng ta có chàng, nhưng chàng lại không biết...
Tiếng gió chợt trở mạnh, một bóng đen xẹt qua ngoài cửa sổ khiến Sở Kiều kinh hoảng giật mình, cả đầu ngón tay cũng trở nên cứng ngắc.
Gia Cát Nguyệt nhận thấy Sở Kiều không ổn thì ôm nàng vào lòng, chống nửa người ngồi dậy hỏi vọng ra: "Cái gì thế?"
Ngoài điện truyền vào tiếng chân của nội thị, ngay sau đó liền có người hồi bẩm: "Bẩm vương, là quạ đêm ạ."
"Lệnh cho đội cung thủ dọn sạch quạ đêm cú đêm ở lân cận."
"Dạ, nô tài sẽ đi ngay."
Gió đêm vẫn thổi *vù vù*, Gia Cát Nguyệt ôm lấy Sở Kiều, dịu dàng trấn an: "Đừng sợ, không sao rồi, chỉ là một con chim thôi."
Vành mắt Sở Kiều đột nhiên nong nóng, nàng xoay người lại ôm chặt hông Gia Cát Nguyệt.
Gia Cát Nguyệt một tay ôm Sở Kiều, tay còn lại vỗ nhẹ lên lưng nàng, thấp giọng hỏi dò: "Tinh Nhi, nàng sao vậy?"
Sở Kiều vùi mặt vào trong vòm ngực ấm áp của Gia Cát Nguyệt, lẳng lặng thì thầm: "Chẳng qua cảm thấy nhân sinh thật khó nói mà thôi."
Hắn dịu dàng nói: "Nhân sinh vô thường, cũng như ta và nàng vậy."
Sở Kiều ngẩng đầu lên, trong bóng đêm ánh mắt nàng lộ vẻ mông lung, nàng khẽ nhướng mày, nhỏ giọng nói: "Có một số chuyện, cố đến mấy thì sức người vẫn không thể làm được, thiên ý vốn khó lường."
"Ta không tin mấy thứ thần phật đó." Hắn khẽ cười, đáy mắt rạng rỡ ánh sáng, âu yếm hôn lên môi nàng rồi thì thầm: "Cũng không bao giờ làm những chuyện sẽ khiến bản thân hối hận."
Tim như vừa rơi vào ôn tuyền ấm áp, tứ chi lập tức mềm nhũn, Sở Kiều ôm lấy Gia Cát Nguyệt, nồng nhiệt hôn lại, nồng nhiệt vuốt ve bờ vai rộng, áp tai lên lồng ngực rắn chắc lắng nghe từng tiếng tim đập vững vàng của hắn.
Nước mắt rơi xuống từng giọt, không rõ vì sao nhưng nàng cũng chẳng buồn ngăn lại.
Ngoài cửa sổ tuyết bay mịt mù, nàng đang ở trong ngôi nhà ấm áp của mình, trong vòng tay của phu quân, con trai nàng đang ngủ trong tẩm phòng ở đối diện. Trời đất rộng lớn nhưng thế giới của nàng lại ở rất gần, chỉ trong tầm tay. Chính điều này đã tiếp dũng khí cho nàng sẵn sàng đối mặt với mọi sóng gió thế gian.
.................................................................................................
Mùa đông ở Thanh Hải rất ngắn, thoáng cái đã trôi qua.
Không trung lất phất mưa xuân, hôm nay là một ngày tốt để bắt đầu vụ xuân, sáng sớm Gia Cát Nguyệt đã dẫn văn võ cả triều đến đàn Thần Nông tế bái. Âu Dương Mặc đã trưởng thành nên cũng bắt đầu cùng Bình An và Đa Cát đi theo bên cạnh Gia Cát Nguyệt học hỏi. Thanh Thanh không ai chơi cùng nên buồn đến rũ người, liền đau khổ đến nài nỉ Sở Kiều xuất cung dạo chơi.
Mấy ngày nay Sở Kiều tự nhiên thấy uể oải nên không thích vận động, nhưng Thanh Thanh vẫn một mực van nài, cho nên nàng không thể làm gì khác ngoài chiều ý, sẵn tiện dẫn theo cả con trai và Vinh Nhi cùng ra ngoài. Lý Thanh Vinh không còn quá nhỏ nhưng vẫn cực kỳ mê ngủ, lúc bọn họ ra khỏi cửa cung cậu bé còn chưa tỉnh. Sở Kiều bất đắc dĩ, đành chuẩn bị xe ngựa cho một mình cậu, còn mình thì mang con trai cùng Thanh Thanh cưỡi ngựa mà đi.
Đến chân núi, tất cả đều bỏ ngựa đi bộ, Lý Thanh Vinh than ngắn thở dài đi theo sau, luôn miệng nói cậu đến Thanh Hải vốn để tránh bị phiền, chẳng ngờ vẫn phải lao lực, mệt chết đi được.
Thanh Thanh nghe nóng máu nên cãi lại, chẳng ngờ nói chưa được hai câu đã bại trận, đành quay sang cầu cứu Sở Kiều.
Sở Kiều cười hỏi có phải cậu bé suốt ngày bị Đường hoàng bắt học tập chính sự hay không mà phải trốn về đây?
Cậu bé gật đầu liên hồi, bất đắc dĩ thở dài, "Hoàng huynh nói, chờ con lớn thêm vài tuổi sẽ bắt con phụ chính, để huynh ấy nghỉ xả hơi mấy năm."
Sở Kiều biết huynh đệ hai người tình cảm rất tốt nên cũng không quá kinh ngạc, chỉ cười nói: "Nghi Nhi xem trọng Vinh Nhi nhỉ."
Nhưng Vinh Nhi lại bĩu môi, khinh thường nói: "Làm hoàng đế là chuyện khổ nhất trên đời, huynh ấy muốn gạt cho con vào tròng đây mà, không có cửa đâu."
Mưa phùn liên tục khiến đường núi khá trơn, mãi đến khi bọn Sở Kiều lên đến đỉnh núi trời mới tạnh mưa, mặt trời nhô ra khỏi mây, rải hồng xuống bốn phía, tựa như giăng tơ mịn khắp nơi.
Thanh Thanh hớn hở nhảy chân sáo, Gia Cát Vân Châu nhướng mày nhìn, hỏi mẫu thân: "Mẹ, chừng nào dì mới có thể gả ra ngoài vậy?"
Thanh Thanh quay phắt lại, hung dữ quát: "Ai cần con quan tâm?"
Gia Cát Vân Châu bĩu môi, "Ai quan tâm đâu? Con chỉ muốn lỗ tai đỡ phiền thôi."
Hai người một lớn một nhỏ cãi nhau nhặng xị, Sở Kiều cười cười quay đầu nhìn Lý Thanh Vinh. Hôm nay cậu bé mặc y phục đỏ thẫm, mái tóc tơ được búi cao trên đỉnh đầu, đang đứng dựa lưng lên một gốc thông bên đường, còn rất nhỏ nhưng ngũ quan và diện mạo đã hoàn toàn là bản sao của Lý Sách.
Thấy Sở Kiều quay lại nhìn mình, đôi mắt hồ ly khẽ nheo, cậu bé đột nhiên cười nói: "Chừng nào cô cô sinh tiểu muội muội, chờ Vinh Nhi trưởng thành thì gả làm vợ Vinh Nhi nhé."
Sở Kiều sửng sốt, buồn cười hỏi lại: "Con còn nhỏ xíu, sao lại đột nhiên nghĩ đến chuyện này?"
"Cũng chẳng phải là bất chợt nghĩ đến." Lý Thanh Vinh nhướng mày, khóe miệng điểm một nụ cười mỉm, rõ ràng vẫn còn là một đứa trẻ nhưng ánh mắt cậu bé lại mông lung tựa một khoảng trời đầy sương, khiến người khác không cách nào nhìn thấu.
"Từ nhỏ Vinh Nhi đã cảm thấy, mình sinh ra chính là vì mục đích này."
Một cơn gió nhẹ thổi đến, phả lên phần tóc mai của Lý Thanh Vinh, cậu bé đưa mắt nhìn về phía chân trời xa xăm, lẳng lặng nói: "Cô cô, thế gian này quá nhiều oán hận, như phụ hoàng và mẫu phi, cũng như hoàng gia gia và hoàng nãi nãi, cả đời bọn họ đều sống trong nỗi căm hận nhau, đến chết cũng không thôi. Phu thê như cô cô và vương thật sự quá ít."
Gió chợt mạnh hơn, nhìn thấy Sở Kiều ăn mặc phong phanh, bóng dáng bé nhỏ của cậu bé vội vàng cầm áo choàng chạy đến khoác thêm cho nàng, dáng vẻ nhìn hết sức chín chắn.
Vinh Nhi cười tít mắt, nói: "Cô cô, Vinh Nhi muốn có tiểu muội muội làm vợ, cho nên cô cô và vương phải cố gắng đấy."
Bị một đứa trẻ còn nhỏ như vậy chọc ghẹo, Sở Kiều nhất thời có hơi lúng túng, chỉ mắng được vài câu qua loa lấy lệ, nhưng Vinh Nhi vẫn trưng bộ dáng yêu nghiệt kia cười với nàng.
Sau cơn mưa phùn, cầu vồng hiện lên, ánh mặt trời lóng lánh tràn ngập không trung.
.................................................................................................
Nửa tháng sau, thái y báo tin, Thanh Hải vương phi lại mang thai.
Cuối năm đó, cung Tinh Nguyệt nhiều thêm một cô bé tên Gia Cát Vân Sênh, tên ở nhà là Trân Châu, danh hiệu Trân Châu quận chúa.
Cô bé mới hai tháng tuổi thì sính lễ cầu thân của Biện Đường đã qua khỏi Thùy Vi Quan. Lý Thanh Vinh thúc ngựa đến chặn đường, đuổi sứ thần cầu thân với đoàn người đi đưa sính lễ trở về.
Đường hoàng Lý Tu Nghi viết thư trách mắng nhưng cậu bé chỉ hừ khẽ, hồi âm một câu gọn lỏn: Trân châu là của con trai, liên quan gì tới vỏ trai chứ?
Điện Diên Hoa nhiều thêm một đứa trẻ, Thanh Hải vương đáng thương vừa kết thúc nửa năm cấm dục dài đằng đẵng một lần nữa phải bắt đầu công cuộc đoạt lại vợ cho mình.
Gió từ cửa khẩu mang theo hương cỏ tươi mát, một năm trôi qua, một năm nữa lại đến. Trên bờ biển Đông Hải ở Hoài Tống năm nay, ngư dân đánh bắt được rất nhiều trai, có con vẫn còn ôm ngọc lóng lánh, nhưng cũng có con đã vứt bỏ hòn ngọc của mình, chỉ còn trơ vỏ.
Vốn là một hạt cát, được con trai yêu thương bao bọc mới trở thành ngọc quý, được năm tháng mài giũa mới trở thành trân châu.
Phiên Ngoại 10: Thép Cứng
—Có những người, thứ chảy trong thân không phải máu mà chính là sắt thép —
Lửa cháy hừng hực, nóng bỏng như máu vừa đổ, tên nhọn rời khỏi cự nỏ hoàng kim bắn thẳng về phía trung tâm, tiếng gào thét vang vọng thấu trời, máu tuôn như mưa, mặt đất như vỡ vụn, núi cao như sụp đổ, nước biển cuồn cuộn, thế gian như một lò luyện khổng lồ nung nấu máu thịt của trăm họ.
Trong bóng tối khôn cùng, nhanh chóng đảo mắt nhìn quanh, bốn phía tràn ngập sắc máu đỏ rực, hắn thấy được chiến giáp đen bóng, thấy được lưỡi đao loang loáng, thấy được vầng trăng tròn vành vạnh trên bầu trời đêm, thấy được đồng tuyết rộng mênh mông. Thây người chất thành đống, diều hâu sà xuống thành đàn, giương vuốt rúc rỉa thịt thối. Gió rít liên tục không ngừng, bốn phía vang vọng tiếng chém giết, gió cuốn cát khô tạt vào mặt, nóng rát như bị đao cứa.
Tiếng trống trận càng lúc càng dồn dập, quân địch ùn ùn kéo đến, cả vùng đất như đang rung chuyển bởi vó ngựa *rầm rập*, mây đen cuồn cuộn trên đỉnh đầu tựa một con ác long hung dữ.
"Giết ~ !"
"Giết giết ~ !!"
"Giết giết giết ~ !!!"
Nam nhân đột nhiên mở to hai mắt, tất cả hình ảnh vừa nãy chợt tan biến, hắn thấy được mình đang nằm trên long sàng lớn hơn cả phòng ngủ của một nhà bình thường, thấy được hoa văn rồng thêu trên bộ y phục ngủ bằng lụa đen bóng, kim long đang giương cao bộ móng vuốt dữ tợn, chất chỉ thêu vàng óng ánh, trong bóng tối vẫn nhìn được rõ ràng.
Hắn không động đậy, cũng không nói gì, tóc mai bên thái dương ươn ướt, mồ hôi chậm rãi chảy xuống cổ nhưng hắn chẳng buồn lau đi.
Đêm khuya yên tĩnh đến tịch mịch, không có tiếng nói chuyện, không có tiếng bước chân, không có tiếng côn trùng kêu, thậm chí cả tiếng gió cũng không có. Trong không gian chỉ nghe được tiếng thở dốc của hắn, chậm chạp, nặng nề, từng tiếng một.
Đêm dài đến đâu cuối cùng cũng sẽ qua.
Hắn từ trước đến giờ vẫn luôn là một người giỏi nhẫn nại, khi trước đã thế, bây giờ không đổi, sau này cũng vậy.
Ngoài cửa sổ chợt lóe lên ánh đỏ thu hút tầm mắt khiến hắn hơi cau mày, thoáng sau bên ngoài tẩm điện đã vang lên tiếng bước chân dồn dập của nội thị.
"Đã xảy ra chuyện gì?" Cổ họng hơi khan nhưng tiếng của hắn vẫn hết sức bình tĩnh, luôn như từ trước đến nay.
"Bẩm hoàng thượng, là cung Trường Nhạc xảy ra hỏa hoạn, Thủy long cục đã vào cung, hiện đang tiến hành dập lửa ạ." Nội thị lên tiếng hồi báo, âm thanh lanh lảnh giữa đêm khuya thanh vắng khiến người nghe bất giác lạnh gáy.
Hắn ngồi bất động trên giường, mắt nhìn bóng cây ngoài cửa sổ, im lặng một hồi lâu rồi đột nhiên xuống khỏi giường, đi chân trần đến cửa tẩm điện. Hơn mười nội thị gác đêm hoảng hốt tiến đến khoác thêm hoàng bào lên vai hắn, giúp hắn mang giày. Hắn rời khỏi tẩm điện, đi thẳng về phía cung Trường Nhạc. Thủ lĩnh nội thị vội vàng triệu một nhóm hộ vệ đi theo bên cạnh hắn, chúng cung nhân cũng hối hả cầm lồng chạy theo sau, đoàn người đông đảo kéo thành một đường dài, hùng dũng đi đến cung Trường Nhạc.
"Đánh! Đánh chết bọn chúng cho ta!" Từ rất xa đã nghe thấy tiếng quát của nội thị.
Hắn lẳng lặng đi về phía âm thanh, chỗ khúc quanh trước cổng Nguyệt Lượng là hình ảnh mấy gã cung nhân đang vây bắt mấy đứa bé gái còn nhỏ. Bọn nhỏ bị đè nghiến lên lan can, một nội thị đang ra sức quật roi. Y phục trên người các bé đã bị quất rách bươm, máu thịt dính chặt mông với vải quần. Ban đầu các bé còn kêu thét thảm thiết, sau dần ngay cả sức kêu cũng không có.
"Lửa là do ta châm. Có ngon thì cứ giết ta đi." Một bé gái gầy gò đột nhiên kêu lên. Cô bé đã bị đánh không còn hình người nhưng vẫn quật cường ngẩng khuôn mặt nhỏ nhắn lên, lạnh giọng nói: "Ta chỉ hận không thể đốt chết hết đám chó Bắc Yến các ngươi!"
Những đứa trẻ này chính là con cháu của tiền triều, sau khi đại quân Bắc Yến xông vào thành Chân Hoàng, tất cả quý tộc Đại Hạ đều bị tàn sát, chỉ có trẻ con là may mắn được tha. Lúc ấy bọn họ dù sao cũng chỉ là một nhóm trẻ nít năm sáu tuổi, quân Bắc Yến giết vài đứa xong thì cũng bắt đầu thương hại, cho rằng bọn họ còn quá nhỏ chẳng biết gì nên mới tha mạng. Nhưng chẳng ai ngờ được, những đứa trẻ năm ấy còn chưa nhận thức sự đời hôm nay lại có thể làm ra hành động điên cuồng như vậy.
Cung Trường Nhạc là nơi ở của Ngọc mỹ nhân vừa được tấn phong, tối nay hắn đã lật bài tử của nàng ta, nhưng do thấy hơi mệt nên mới không đến.
Hận thù quả nhiên là thứ dai dẳng cứng rắn nhất trên đời, bị đao chém, bị lửa đốt, bị đóng băng, bị phơi dưới nắng gắt cũng không hề suy suyển.
"Hoàng thượng." Thủ lĩnh nội thị quỳ trên mặt đất, hơi run run. Hắn không rõ tại sao mình lại như vậy, chỉ cảm thấy lòng bàn tay bàn chân không ngừng có khí lạnh len vào, hàn khí từ đó lan dần khắp toàn thân khiến hắn không kiềm run rẩy.
"Hồi cung." Vạt áo bằng gấm đen quét qua một nhành cây gãy rơi trên mặt đất, nam nhân rầm rộ dẫn người chạy tới nhưng chỉ nhìn thoáng qua rồi lập tức xoay người rời đi.
Bầu trời đêm vẫn đen như mực, bóng dáng hắn dần biến mất ở cuối hành lang thăm thẳm, như ẩn như hiện. Gió lạnh thổi qua khiến bụi đất tung lên, tất cả mọi âm thanh dần tắt, chỉ còn lại tiếng kêu thét thảm thiết và âm thanh mắng chửi của nhóm trẻ con quanh quẩn trong không trung.
"Ta phải báo thù cho mẹ!"
"Chó Bắc Yến độc ác!"
"Các ngươi sẽ chết không được tử tế!"
"Vua của chúng ta sẽ trở lại! Rồi các ngươi sẽ phải hối hận!"
...
Đêm dài thênh thang, mũ giáp trong kho binh khí bị phủ một lớp sương lạnh, trước cổng Nguyệt Lượng máu chảy thành sông. Cuối cùng, thi thể của đám trẻ bị lôi ra khỏi cung, bị vứt ở bãi tha ma, mặc cho chó hoang cắn xé.
Truyền kỳ trên thế gian này thật sự có quá ít, người không cam lòng khuất phục đa số đều táng mạng trong vực thẳm thù hận, người có thể nhẫn nhục cố bò lên thành công cũng chưa chắc chân chính được sống trong vui vẻ.
Nhưng dù sao đi nữa thì sống vẫn luôn tốt hơn là chết.
Hắn lẳng lặng ngồi bên cửa sổ, nơi ngón cái có đeo một ban chỉ bằng bạch ngọc hơi chật. Ban chỉ kia đã bể tan tành, được nối lại bằng chỉ vàng chằng chịt nhưng vẫn còn lỗ chỗ vết khuyết, vứt ra ngoài hẳn cũng chẳng ai thèm nhặt.
Hắn vuốt ve ban chỉ, vết chai nơi đầu ngón tay ma sát với chất ngọc phát ra âm thanh *kin kít* rất khẽ. Hắn cúi đầu nhìn hoa văn mờ mờ trên ban chỉ, trong một thoáng, trường kiếm nơi đáy lòng lại rời vỏ chém mạnh một nhát khiến tim hắn tứa máu, trên lưỡi kiếm sáng loáng phản chiếu một khuôn mặt đã khắc sâu trong đầu hắn.
"Hối hận ư?" Hắn lẳng lặng cười nhạt.
Những loại cảm xúc con người thường có, ví như mềm yếu, ví như sợ hãi, hoặc hối hận như trong lời của đứa trẻ kia, hắn đều không cho phép hiện diện trong tâm trí bản thân.
Bởi vì những thứ đó, ngoại trừ khiến hắn thấy đau đớn thì chẳng có tác dụng gì khác.
Nghiệp lớn đã thành, mối hận đã đòi, hắn nay muốn gì được nấy.
Hối hận ư?
Hắn nhắm mắt lại, nơi chân trời xa xa lóe lên một tia sáng rất nhạt, ánh sáng xuyên qua cửa sổ hằn lên mặt hắn. Tòa cung điện xây bằng gỗ hắc đàn và đá đen này vào lúc hừng đông toát ra một vẻ đẹp khiến người khác hít thở không thông.
Chảy trên người hắn là dòng máu kiêu hùng của dân Bắc Yến, khắc sâu trong xương cốt hắn là sự ẩn nhẫn khó ai bì kịp, khi ngủ cũng sẽ luôn mộng thấy hình ảnh quân đội Bắc Yến đạp núi công phá thành Chân Hoàng. Hắn là người như vậy đấy, làm gì có chuyện hối hận?
Hối hận?
Hắn giễu cợt hừ lạnh.
.................................................................................................
Ngày 16 tháng 3, quận trưởng quận Đông Dã gửi cấp báo vừa bắt được một nhóm quân phản loạn, trong đó có một người thân phận nhìn có vẻ không tầm thường.
Hình bộ nhanh chóng hạ lệnh giải người nọ đến kinh thành.
Nửa tháng sau, người nọ cuối cùng cũng bị áp giải đến. Nam tử có cặp mắt phượng, hàng mày kiếm, chiếc mũi cao và đôi môi mỏng, tình huống thất thế không hề che giấu được vẻ tuấn tủ bất phàm của hắn.
Yến Tuân ngồi trên vương vị nhìn vị tiểu vương gia cao quý ngày xưa này, hồi lâu vẫn không nói gì. Còn nam tử nọ lại điềm nhiên lau vết máu trên mặt, nở một nụ cười bình thản nhìn lại hắn rồi cất tiếng, giọng điệu tùy ý như bạn bè cũ vừa gặp lại nhau, "Yến thế tử, đã lâu không gặp."
Yến... thế tử...
Đã lâu không nghe thấy danh xưng này rồi.
Yến Tuân bình tĩnh gật đầu, đáp lời: "Cảnh tiểu vương gia."
"Thời gian lâu không gặp, phong thái của Yến thế tử quả thật nhìn hơn trước rất nhiều."
"Thế à?" Yến Tuân điềm nhiên nói: "Tiểu vương gia cũng hơi khác xưa."
Cảnh Hàm cười nói: "Phong thủy luân chuyển, thế sự nhiều đổi thay cũng là chuyện bình thường."
"Tiểu vương gia có thể có cái nhìn phóng khoáng như vậy thật không hổ là anh hùng hào kiệt."
Cảnh Hàm đột nhiên bật cười, lắc đầu nói: "Anh hùng đều đã sớm chết cả, người còn sống chẳng qua chỉ là vì nhận ủy thác hay hạng tham sống sợ chết mà thôi. Nếu thế tử có thể giúp ta nhanh kết thúc tình cảnh lúng túng khó xử này thì ta thật sự rất cảm tạ."
"Dường như Tiểu vương gia đang rất nhẹ nhõm."
Cảm Hàm lộ vẻ cảm khái như vừa gặp được tri kỷ, cúi đầu hành lễ rồi nói: "Mong Yến thế tử có thể thành toàn."
Ánh mắt Yến Tuân đột nhiên lóe lên, đó chính là loại nhuệ khí rèn luyện được sau nhiều năm bôn tẩu chốn quân ngũ, sắc bén tựa một mũi tên đầy sát khí, một khi rời cung sẽ có thể xuyên thủng hơn mười lớp da trâu. Nhưng ở trong mắt nam tử tự kiêu trước mặt, đó chẳng là gì cả.
Đao kiếm có thể chinh phục thiên hạ nhưng vĩnh viễn cũng không chinh phục được lòng người, tiền triều thối nát đến như vậy nhưng cuối cùng vẫn còn một số người can trường.
Yến Tuân tùy ý phất tay, "Không tiễn."
Cảnh Hàm thong dong nở một nụ cười, hắn đứng giữa đại điện, ống tay áo bay múa, cả người chồng chất vết thương nhưng khí chất hoàng gia cao quý không hề mảy may suy giảm.
"Thế tử bận rộn nhiều chuyện, chớ nhọc lòng."
Ánh mặt trời xuyên qua cửa sổ để lại từng vệt sáng chồng lên nhau trong không trung.
Lúc còn nhỏ nhìn không vừa mắt nhau, cùng học ở Thượng võ đường thì không ngừng ngấm ngầm tranh đấu, trưởng thành vẫn đứng ở hai đầu chiến tuyến liên tục đánh giết, nhưng cuối cùng vẫn là hắn ngồi trên cao nhìn nam nhân kiêu ngạo xuất thân cao quý kia đi từng bước lên đài chém.
Yến Tuân hơi ngước cằm, bên tai như có gió nhẹ phe phẩy qua lại, thời gian lẳng lặng trôi qua nhưng hắn vẫn không buồn lên tiếng, một cảm giác mệt mỏi không kiềm chế được chợt dâng lên tận đáy lòng. Khoảng cách từ chính điện đến đài Cửu U rất xa nhưng hắn như vẫn nghe được tiếng gió thổi *vù vù* trên đài, như cảm nhận được máu tươi nóng ấm bắn ra nhuộm đỏ bốn phía, bốc lên mùi tanh ngai ngái. Thân hình hiên ngang ngã chúi nhủi xuống mặt đất lấm lem, không bao giờ có thể đứng dậy nữa, ánh mắt can trường kia cuối cùng vẫn phải nhắm lại vĩnh viễn.
Tôn nghiêm? Kiêu ngạo? Huyết mạch hoàng thất? Kiên cường? Lòng tin?
Quan trọng gì những thứ đó chứ?
Người chưa từng rơi xuống tận cùng của vực thẳm, chưa từng trải qua cảm giác chết không bằng sống thì làm sao hiểu được cái gì mới là thứ quan trọng nhất?
Sống sót chính là điều kiện tiên quyết, người đã chết thì chẳng còn gì, chẳng làm được gì, sống sót mới là quan trọng nhất.
Yến Tuân chậm rãi mở mắt ra, chính điện quỳ đầy văn võ bá quan nhưng đại điện lại tịch mịch không một tiếng động, sự căng thẳng trong không khí khiến người ta hít thở không thông. Hắn thậm chí còn thấy được có người đang hơi run rẩy, bọn họ sợ hắn, có lẽ cũng ghét hận hắn, nhưng thế thì sao? Nói cho cùng thì hắn vẫn là chủ nhân của mảnh đất này, bọn họ chỉ cần thần phục hắn là đủ, quá đủ rồi.
Ánh trăng lóng lánh như ngọc chiếu lên khuôn mặt bền bỉ, nam tử ngồi trên cao này chính là vị chúa tể mới ở đại lục, hắn chính là vị vua khai quốc của Đại Yến.
Hắn chính là Yến Tuân, là ác quỷ bò ra khỏi địa ngục, là mảnh oan hồn còn sót lại của sinh mạng đã đi qua cái chết, hắn sẽ không hối hận, vĩnh viễn không.
"Hoàng thượng, nữ hoàng Lana của đế quốc Bắc La Tư gửi thư cầu cứu đến cho chúng ta, báo tin Triệu Triệt vừa dẫn binh tấn công hơn hai mươi quốc gia ở phía bắc đại mạc, hiện tại hắn đã chiếm giữ gần hết Tây Mạc."
"Hoàng thượng, Khuyển Nhung ở biên giới Tây Bắc vừa chiêu mộ thêm ba mươi vạn lính, đang đóng ở bên ngoài Mỹ Lâm Quan theo dõi nhất cử nhất động của chúng ta, hẳn có mưu đồ bất chính!"
"Hoàng thượng, bên Tĩnh An vương phi xuất hiện dị động, Hình bộ đóng ở biên cảnh Tây Bắc bắt được hơn mười mật thám của Tĩnh An vương phi, chúng ta nghi ngờ nàng ta đang qua lại hết sức thân cận với Khuyển Nhung."
"Hoàng thượng, Hà Đông xảy ra lũ, Giang Nam bị hạn hán, thuế thu được năm nay chưa bằng một nửa năm trước, chúng ta cần có biện pháp đề phòng."
"Hoàng thượng..."
Người trưởng thành từ trong cô độc cùng nỗi thống khổ sẽ không bao giờ bị mưa gió đánh ngã, bị suy suyển bởi đao kiếm, bị thiêu đốt bởi lửa nóng, cũng không bị làm khó bởi bất kỳ nguy nan nào.
Bởi vì khi đó, thứ chảy trong người hắn đã không còn là máu tươi mà chính là thép cứng.
Phiên Ngoại 11: Lang Yên*
*Từ cổ chỉ khói ám hiệu, vì thời xưa dùng phân sói đốt làm khói báo động
—Có khói hiệu không nhất định là có chiến tranh, đôi khi nó cũng chính là khởi đầu của hòa bình sắp đến—
Gió mơn man vuốt ve thảm cỏ xanh rì, vị tướng trẻ tuổi thân mặc giáp xanh thẫm ngồi trên lưng ngựa, chậm rãi mở lá thư trong tay ra, im lặng đọc một lúc thật lâu.
Xa xa vọng lại tiếng vó ngựa, Ngụy Thư Diệp thúc ngựa chạy đến, nhìn thấy vẻ mặt biến hóa khôn lường của Triệu Triệt thì khẽ nhíu mày, "Gia Cát Tứ lại gửi thư?"
"Ừ." Một lúc sau Triệu Triệt mới ngẩng đầu lên, ha hả cười nói: "Hắn vừa có thêm một đứa con gái, muốn ta ban phong hào."
"Ồ?" Ngụy Thư Diệp cười nói: "Hắn cuối cùng có đủ nam đủ nữ rồi, nhất định phải gửi quà mừng thôi."
"Không cần sốt sắng, hắn đã viết sẵn danh mục quà cho chúng ta rồi đây này."
Ngụy Thư Diệp nghe vậy thì thoáng sửng sốt, nhưng cũng lập tức cười nói: "Đã làm cha của hai đứa rồi mà tính tình vẫn còn quái gở như vậy, bất kể là chuyện gì cũng sống chết không chịu thiệt."
Ánh mắt của Triệu Triệt chợt trở nên ôn hòa, nhớ lại vài chuyện thời niên thiếu thì cũng mỉm cười, nói: "Tên đó từ nhỏ đã vậy, ngươi còn nhớ không, lúc chúng ta còn ở Thượng Võ Đường, ai đến sinh thần đều mở tiệc mời khách, những người khác sẽ chuẩn bị hồng bao đi chúc mừng. Chỉ mình hắn là chưa bao giờ đi dự cũng chẳng chuẩn bị tiền mừng. Có một lần Thập Tam bắt hắn bao bữa cơm, ai ngờ hôm đó lại chính là sinh thần của hắn. Thập Tam sau đó còn khoe khoang với chúng ta rằng được ăn chùa của Gia Cát Tứ. Kết quả là hôm sau Thập Tam bị hơn hai mươi cửa tiệm đến đòi nợ, bọn họ nói rằng Tứ thiếu gia của phủ Gia Cát mua rất nhiều đồ, đều ghi dưới tên của Thập Tam, bảo họ đến phủ Thập Tam lấy tiền."
Ngụy Thư Diệp cười vang, "Nhớ như in ấy chứ, lần đó Thập Tam tức suýt hộc máu, ăn một bữa cơm đi tong gần nửa năm bổng lộc, phải vay tiền ta suốt ba tháng liền, đến bây giờ còn chưa trả."
"Ha ha, ai cũng nói Thập Tam là người phúc hậu, thật ra đệ ấy mới gian xảo nhất hạng, từ nhỏ tới lớn vay tiền đều không bao giờ trả."
Hai người vừa nói vừa thúc ngựa trở về, hiện giờ hành cung của Triệu Triệt tọa lạc ở thành Sương Hàn, láng giềng chính là đế quốc Bắc La Tư. Thành Sương Hàn rất lớn, có thể sánh ngang với thành Chân Hoàng của Đại Hạ khi xưa, sau mấy năm thúc đẩy kinh tế phát triển, nhân khẩu trong thành dần trở nên đông đúc, nay đã ra dáng một trung tâm thông thương đứng đầu Bắc Địa.
Hai người còn chưa vào thành thì đã nghe thấy tiếng vó ngựa gấp gáp phi đến. Trước mặt chính là một cô gái khoác áo choàng đỏ thẫm, chân đi ủng bằng da cáo đỏ, mặt ửng hồng, mi mục như vẽ, nhìn kỹ thì còn thấy được vùng bụng nhú cao như người đang có mang. Nhác thấy Triệu Triệt, cô gái chợt sáng mắt lên, vung cao roi thúc ngựa vọt đến.
Triệu Triệt không khỏi cau mày, còn Ngụy Thư Diệp ở bên cạnh thì lại che miệng cười khẽ.
"Về rồi cũng không thèm báo trước một tiếng, hừ, không ngờ cuối cùng vẫn bị người ta phát hiện chứ gì?" Người phụ nữ trước mặt đã làm mẹ của hai đứa trẻ, đứa thứ ba cũng sắp chào đời, nhưng vẫn còn mang dáng vẻ ngây thơ của một thiếu nữ. Nàng vứt roi, ngước chiếc cằm thon nheo mắt nhìn Triệu Triệt, dáng vẻ hết sức đắc ý.
"Đã mang thai sao còn cưỡi ngựa? Nàng có để lời của ta trong lòng không vậy hả?"
Hoàn Nhan Nhu *hứ* nhỏ một tiếng, nói thờ ơ như không: "Mẹ sinh ta ở trên lưng ngựa đấy, phụ nữ Đông Hồ chúng ta không yếu ớt như phụ nữ Đại Hạ mấy người đâu."
Dứt lời nàng liền nhảy xuống khỏi ngựa, chạy đến bên cạnh Triệu Triệt đặt tay lên lưng con ngựa của hắn rồi nhón chân lấy thế, nhìn dáng vẻ như muốn cưỡi cùng ngựa với Triệu Triệt.
"Giúp một tay coi, kéo ta lên nào." Hoàn Nhan Nhu vừa với người vừa kêu to. Đành chịu, bụng to vướng víu, cử động đích thực không tiện.
Triệu Triệt nhìn khuôn mặt bướng bỉnh của nàng, cuối cùng cũng chỉ có thể thở dài bất đắc dĩ, kéo nàng lên lưng ngựa rồi nhẹ đá bụng ngựa, điều khiển ngựa đi chậm rãi từng bước một. Hoàn Nhan Nhu ngoan ngoãn dựa vào lòng phu quân, híp mắt cười thỏa mãn, vẻ mặt như chú mèo vừa bắt được cá ăn.
Hai người mới về đến thì hạ nhân tiến đến cho hay có chiến báo từ đại lục. Hoàn Nhan Nhu nghe vậy thì phụng phịu bĩu môi, hùng hổ quay người trở về hậu cung, trước khi đi còn nói to rằng muốn đi tìm con trai chơi.
Triệu Triệt vừa đi đến chính điện vừa căn dặn hạ nhân trông chừng nàng, nắng sau giờ Ngọ vô cùng rực rỡ, luồn qua cửa sổ nhuộm vàng mặt đất.
Chiến báo là do Triệu Dương cho người đưa đến, nội dung không khác lắm so với trong thư của Gia Cát Nguyệt, có thì cũng chỉ là tường tận hơn một chút.
Mấy năm nay Triệu Dương ở biên cảnh Bắc Yến hoạt động khá mạnh, nên việc hắn biết nhiều chuyện hơn người khác cũng chẳng có gì lạ. Huống hồ thư của Gia Cát Nguyệt được viết từ tận nửa tháng trước, khi đó tình hình còn chưa kịch liệt như bây giờ mà hắn đã có thể nhận ra dị động, quả thật không hề đơn giản.
Ngụy Thư Diệp đã sớm biết Gia Cát Nguyệt gửi thư sẽ không chỉ nói mấy chuyện vặt vãnh như vậy. Hắn vừa mới dẫn binh chinh phạt Thổ Cốc Hồn xa xôi trở về, Triệu Triệt không muốn hắn lo lắng nên mới không nói mà thôi. Vì vậy, sau khi trở về phủ thay y phục, Ngụy Thư Diệp liền vội vã vào cung. Mới bước vào chính điện, quả nhiên đã thấy Triệu Triệt và một nhóm tướng quân đại thần đang thương nghị hết sức căng thẳng.
Thảo luận được khoảng hai canh giờ thì đến giờ dùng bữa tối, Hoàn Nhan Nhu phái người đến giục nhiều lần, tận khi gần như muốn đích thân tới liều mạng với các đại thần, chư vị nguyên lão đành xuất cung mà lòng vẫn đầy thấp thỏm. Ngụy Thư Diệp được Triệu Triệt giữ lại dùng bữa cũng không cự tuyệt, có điều lúc ăn cơm hắn không thoát khỏi việc bị ánh mắt sắc lẻm như dao của người nào đó bị chiếm mất chồng đục khoét người.
Cơm nước xong, hai người vào thư phòng, Triệu Triệt hỏi thẳng vào vấn đề: "Ngươi có cái nhìn thế nào về chuyện này."
Ngụy Thư Diệp cười khẽ, đáp: "Điện hạ hẳn đã có quyết định từ sớm rồi, sao còn phải hỏi ta làm gì?"
Triệu Triệt nhướng mày, nói: "Ta vẫn chưa quyết định."
"Còn do dự tức là đã quyết tâm rồi."
Triệu Triệt từ tốn ngồi xuống, tay vuốt ve vành chén trà, trầm ngâm không nói lời nào.
"Tĩnh An vương phi bất chấp mọi thứ tấn công Mỹ Lâm Quan mở đường cho Khuyển Nhung tiến vào, quả thực là hành động mù quáng không thể tưởng tượng được. Điện hạ, cho dù nàng ta là hậu duệ của Đại Hạ thì chúng ta cũng không thể dung túng cho hành động lần này của nàng ta."
Quan sát thấy Triệu Triệt vẫn im lặng, Ngụy Thư Diệp mới tiếp tục nói: "Lúc trước nàng ta mấy lần cho người ám sát Sở Kiều, nếu không phải do nể mặt điện hạ, Gia Cát Tứ đã ra tay giải quyết nàng ta từ lâu. Mấy năm nay, không bị Biện Đường uy hiếp, không bị Thanh Hải động chạm, Yến Tuân thì không biết nghĩ gì, đã mấy lần có cơ hội nhưng cuối cùng lại không hạ thủ, ngoài ra còn được chúng ta âm thầm che chở, nàng ta vẫn an toàn, không bị nguy hiểm đến tính mạng. Có điều lần này quả thực đã quá mức rồi."
Triệu Triệt im lặng thêm một chốc rồi mới nói: "Khuyển Nhung đã đánh đến Bắc Sóc."
"Đại Yến lập quốc chỉ mới sáu năm, thế lực chưa vững, vẫn chưa hoàn toàn tiêu trừ hết binh lực Đại Hạ đóng ở địa phương. Thuần công chúa khởi binh với danh nghĩa giết Yến phục Hạ đúng là sẽ nhận được ủng hộ của người tiền triều. Nhưng nếu để dân chúng và quân đội thấy được sự tàn bạo của Khuyển Nhung, kế hoạch này chắc chắn sẽ phản ngược lại. Khi ấy, Thuần công chúa sẽ lâm vào thế bị động hoàn toàn, tuyệt đối thoát không khỏi tội danh phản đồ của cả đại lục. Ngụy Thư Diệp từ tốn phân tích, hơn năm năm tắm trong máu tanh, hắn đã không còn là vị công tử thế gia trong thành Chân Hoàng khi xưa nữa rồi.
Triệu Triệt nhướng mày, chậm rãi hỏi: "Ngươi nghĩ sao về phương án của Trương đại nhân?"
Ngụy Thư Diệp bật cười, "Điện hạ, trong lòng ngài đã hiểu rõ, cần gì phải hỏi ta nữa?"
Triệt Triệt nhìn hắn một lát rồi đột nhiên cười nói: "Đúng vậy, chẳng trách A Nhu cứ nói ta càng ngày càng giống gà mẹ, suy tính đắn đo quá mức."
"Người ngồi trên cao đều thế, trước kia ngài chỉ là một phiên vương, còn bây giờ đã là quân chủ của Đại Hạ, gánh vác trách nhiệm đối với nhiều người như vậy, không thể không cẩn thận."
"Ta hiểu được, sự thống trị của Bắc Yến trong tương lai gần là không thể suy suyển, hiện giờ đại lục đang hỗn loạn trước sự xâm chiếm của giặc Khuyển Nhung, nếu chúng ta tham lam, một mặt vờ giúp đỡ, một mặt ngấm ngầm khai chiến thì kết cục cũng chẳng được gì. Có dùng chiêu đục nước béo cò này chăng nữa, chúng ta cũng không thành công."
Ngụy Thư Diệp hỏi: "Thế Gia Cát Tứ nói sao?"
"Ngẫm lại đi." Triệu Triệt cau mày nói: "Hắn khác chúng ta, Thanh Hải vẫn là một khu vực tách rời với đại lục, có độc lập riêng, quân binh cũng chẳng liên quan gì tới người đại lục. Trong khi binh sĩ của chúng ta, nhất là quan quân cấp cao, tất cả đều hận Bắc Yến thấu xương. Bây giờ bảo bọn họ đi giúp Bắc Yến chống giặc ngoại xâm thì có khác nào bắt bọn họ lên trời hái trăng chứ."
Ngụy Thư Diệp nghe vậy thì thở dài bất đắc dĩ, lắc đầu nói: "Nói vậy chúng ta thật sự phải đánh giặc giùm người khác rồi."
Triệu Triệt cũng bất đắc dĩ cười nói: "Đành chịu thôi."
"Phải rồi, vừa nãy có thấy lễ quan vội vã lên đường, chuyện gì mà bọn họ khẩn trương như vậy?"
Nghe tới chuyện này, Triệu Triệt cuối cũng mới lộ ra một nụ cười thoải mái, nói: "Còn gì khác ngoài chuyện tranh thủ giành vợ cho Hiển Nhi nữa. Trân Châu quận chúa nhà Gia Cát kia bây giờ là bảo bối đấy, không nhanh chóng đặt cọc thì sẽ bị Biện Đường nẫng tay trên."
"Đường hoàng Lý Tu Nghi?" Ngụy Thư Diệp kinh ngạc, "Chẳng phải thằng nhóc đó vừa sắc phong hoàng hậu sao?"
"Ngươi quên rồi à? Lý Sách còn một đứa con trai nữa, là con của Chiêm quý phi, hiện đang ở Thanh Hải."
"À, nhớ rồi." Ngụy Thư Diệp gật gù, "Ta từng nhìn thấy đứa bé kia, bề ngoài rất giống phụ thân, nhất là đôi mắt."
Triệu Triệt tựa người vào lưng ghế, nói một cách đắc ý, "Tên đó đòi ta nhiều lễ vật như vậy, nhưng sớm muộn gì cũng phải theo hồi môn của con dâu trở về với ta thôi."
Gió nổi lên quét ngang Bắc Địa, cỏ xanh lú nhú nảy mầm. Cùng thời gian, Thanh Hải vừa mới đổ mưa, mùi vị trong trẻo tươi mát tràn ngập trong không trung.
Màn đêm yên tĩnh, Sở Kiều mặc y phục ngủ bằng vải bông trắng, thấy trời mưa thì đi đến đóng cửa sổ lại, ngăn tiếng mưa *tí tách* lại bên ngoài. Nến lẳng lặng cháy, tỏa ra ánh sáng ấm áp như hòa làm một với sự tĩnh lặng trong phòng.
Một đôi tay từ phía sau vòng đến ôm lấy Sở Kiều, hơi thở ấm áp phả lên vành tai nàng, Gia Cát Nguyệt mệt mỏi tựa người vào thân thể mềm mại của nàng, nhẹ giọng nói: "Sao còn chưa ngủ?"
"Chàng chưa trở lại thì ta nào dám đi ngủ trước?" Sở Kiều mỉm cười, xoay người lại, thả một cái hôn nhẹ lên môi hắn rồi hỏi: "Có đói không? Bảo người dọn bữa tối lên nhé? Ta đã dặn bọn họ giữ nóng thức ăn rồi."
Gia Cát Nguyệt cười cười, dường như không hài lòng lắm với cái hôn nhẹ như chuồn chuồn lướt nước của Sở Kiều nên cúi xuống ngậm lấy môi nàng, khéo léo mở môi nàng ra, đầu lưỡi ấm nóng luồn vào cuốn lấy vị ngọt của nàng.
Sở Kiều dịu dàng ôm lấy hông hắn, nồng nhiệt đáp lại, mới chỉ một chốc mà nhiệt độ trong phòng như liền tăng vọt. Tiếng nói khàn khàn đầy dục vọng nhưng quyến rũ một cách kỳ lạ của Gia Cát Nguyệt mơn man bên tai nàng, "Đã bao lâu rồi, không nhớ ta sao?"
Mặt đỏ bừng, Sở Kiều thở hổn hển, vô lực dựa vào lòng Gia Cát Nguyệt, đầu hơi ngước lên, hai mắt long lanh như phủ nước.
"Ta nhớ nàng lắm, còn giày vò ta nữa thì ta đành phải nạp phi đấy."
Sở Kiều nhướng mày, đập nhẹ lên ngực hắn, "Chàng dám?"
"Không muốn ta nạp phi thì nàng đành phải chịu khó chút vậy." Gia Cát Nguyệt dứt lời liền thuần thục tháo trâm cài trên đầu Sở Kiều, suối tóc đen lập tức buông xuống trên vai nàng. Tay hắn từ tốn lướt qua phần cổ trắng muốt, truyền đến cảm giác tê dại rồi tiếp tục lướt thẳng xuống tuột dây lưng áo ngủ trên người nàng. Ánh nến bập bùng, ấm áp như gió xuân, y phục lụa mềm rơi xuống chân, da thịt mịn màng tựa sứ cùng đường cong mượt mà như thiêu đốt dục vọng của đôi bên.
Gia Cát Nguyệt nhấc bổng Sở Kiều lên, xoay người đi về phía chiếc giường rộng thênh thang.
...
Bỏ bữa tối sẽ để lại hậu quả rất nghiêm trọng, người nào đó ngủ đến nửa đêm thì bị giật mình vì đói, đành lê thân thể bủn rủn muốn đi đến bàn lén ăn chút bánh ngọt. Ai ngờ mới đi được hai bước thì dưới chân chợt mềm nhũn, suýt nữa đã ngã nhào, nàng cau mày, uất ức xoa xoa thắt lưng.
Vừa mỏi vừa đau, đứng thôi cũng thấy khó.
Nàng trừng mắt liếc nhìn nam nhân nào đó còn đang ngủ trên giường.
Có cần lần nào hành sự cũng phải đến mức này không? Ngày mai làm sao dạy Châu Nhi luyện kiếm đây? Người này rất thỏa mãn khi thấy nàng bị con cười nhạo có đúng không?
Sở Kiều ngồi xuống bàn ăn chút bánh ngọt, bánh không còn nóng nhưng do đói nên ăn vẫn thấy ngon. Phía giường đột nhiên truyền đến một tiếng cười rất nhẹ, nàng giật mình đứng phắt dậy, lau miệng rồi hỏi: "Chàng không ngủ à?"
Ánh trăng xuyên qua cửa sổ luồn vào phòng, nam tử trên giường nằm nghiêng, một tay chống đầu, vẫy vẫy tay với nàng, dịu dàng gọi: "Tới đây."
Sở Kiều *hừ* nhẹ, "Đây không muốn."
Gia Cát Nguyệt cười nói: "Ta lo cho sức khỏe của nàng thôi, nàng khỏa thân ngồi như vậy sẽ bị cảm đấy."
Sở Kiều nhất thời đỏ bừng mặt, vội vàng cúi xuống định nhặt y phục trên đất lên thì chợt cảm thấy eo bị kéo mạnh, cả người lập tức bị nam nhân tay dài chân dài nên làm gì cũng nhanh nào đó ôm vào lòng.
"Mệt không?" Cả người Sở Kiều bị bao trong một tấm thảm mỏng, chỉ lộ ra bả vai, hắn không nhịn được cúi đầu hôn lên phần vai trắng nõn của nàng.
Sở Kiều thành thật gật đầu, "Hơi hơi."
"Có đói không? Ta gọi người bưng thức ăn lên nhé."
"Không cần, không cần." Sở Kiều vội vàng cự tuyệt. Đùa sao, bây giờ mà còn gọi đồ ăn thì ngày mai sẽ bị Vinh Nhi và đám tiểu quỷ kia cười đến chết.
Gia Cát Nguyệt ôm Sở Kiều cùng ngồi xuống bên bàn, nhón một miếng bánh đưa đến miệng nàng. Hai người vừa âu yếm nhau vừa nói chút chuyện nhà, thời gian chậm rãi trôi qua, trong tẩm điện hết sức yên tĩnh, tựa như đã tách rời khỏi thế giới bên ngoài, chỉ còn lại bọn họ ngồi tựa vào nhau, da thịt cận kề.
"Tinh Nhi, Khuyển Nhung đã đánh đến Bắc Sóc, nàng thấy sao?"
Sở Kiều khẽ thở dài một hơi, suy nghĩ hồi lâu mới thử hỏi: "Nguyệt, chàng có tin ta không?"
Gia Cát Nguyệt hơi nhướng mày, cười hỏi: "Nàng muốn ta xuất binh giúp Yến Tuân?"
"Không phải giúp Yến Tuân mà là giúp chính chúng ta." Sở Kiều lắc đầu, lẳng lặng nói: "Ta và chàng đều biết, người Khuyển Nhung tuyệt đối sẽ không chiếm được lợi ích gì trong trận chiến này. Bọn chúng ban đầu có lẽ còn có ít lợi thế nhờ xuất binh bất ngờ, nhưng chỉ cần Bắc Yến bình tâm lại thì Khuyển Nhung sẽ không thể tự tung tự tác được nữa. Nhưng phải đợi bao lâu thì còn phải xem xét. Điểm khác biệt của trận chiến này chỉ ở chỗ phải xem Khuyển Nhung có thể gây ra bao nhiêu tổn thất cho Bắc Yến trước. Bọn người này đánh giáp lá cà thì giỏi nhưng hoàn toàn không biết dụng binh, tiến công chẳng theo phương hướng nào. Dùng 'cối xay thịt' để hình dung thì đúng hơn là so với 'quân đội'."
Gia Cát Nguyệt ôm nàng, chỉ im lặng nghe mà không nói tiếng nào.
Sở Kiều tiếp tục nói: "Năm Đường Minh đế thứ 13, người Khuyển Nhung từng công phá Mỹ Lâm Quan. Chỉ mới một tháng mà cả khu vực phía tây đã hóa thành đất hoang khô cằn, dân chúng chết gần trăm vạn, toàn bộ sách cổ và và đình đài đều bị hủy hoại. Chỉ một lần mà đã khiến quốc gia lớn như Biện Đường suy thoái suốt gần mấy chục năm. Nếu không phải vì lần đó thì Biện Đường cũng sẽ không bị Đại Hạ nhân cơ hội chiếm lợi, cuối cùng rơi vào tình cảnh chia năm xẻ bảy."
"Nhưng nếu thực lực Bắc Yến bị suy yếu vì trận chiến này, đó chẳng phải là cơ hội cho chúng ta thu hồi lại lãnh thổ sao?"
Sở Kiều nghiêng đầu nhìn hắn, cười nói: "Trong lòng chàng biết rõ mà cứ cố tình hỏi. Có thể hiểu là Thanh Hải vương của chúng ta đang ghen không vậy?"
Gia Cát Nguyệt phì cười, cúi đầu hôn nàng một cái rồi mới: "Ta hiểu, Yến Tuân tuyệt đối sẽ không để ta ngồi yên xem tuồng đâu. Ta mà cứ nhởn nhơ không ra tay, hắn lại tìm cách xua Khuyển Nhung đến tấn công Thanh Hải không biết chừng."
"Chàng đoán không sai, hoàn toàn phù hợp với tác phong làm việc của y."
"Thôi." Gia Cát Nguyệt nói: "Thay vì để hắn xua người đến Thanh Hải, ta cứ xuất binh giúp hắn cản giặc ở ngoài Bắc Sóc thì hơn, tránh cho nơi ở thanh tịnh của chúng ta bị chướng khí làm ô uế. Hôm nay dân chúng vừa bắt đầu gieo trồng vụ xuân, bị quấy rối thì còn ai có tâm trạng trồng trọt nữa chứ?"
Sở Kiều hỏi: "Chàng định khi nào xuất binh?"
"Mấy ngày tới thôi." Gia Cát Nguyệt đáp lời: "Ta đang đợi tin của Triệu Triệt, hắn ở phía bắc nhất định đang nhân lúc cháy nhà thì hôi của. Yến Tuân phải điều binh chống Khuyển Nhung, làm gì có chuyện tên đó không kiếm chác một tí chứ. Ta phải chờ bên đó đắc thủ rồi mới ra tay được, nhân tiện có thời gian lên tiếng trước với Yến hoàng giàu nứt đổ đố vách kia đòi chút quân phí luôn."
Sở Kiều lắc đầu, "Hai người đúng là cùng một giuộc, vua cũng thua thằng liều* mà. Đàm phán không thành thì tới lúc xuất binh chẳng phải sẽ mất mặt sao?"
*Trong suy nghĩ và hành động của kẻ liều lĩnh không có sự phân biệt đúng sai, phải trái, vì thế mà ai cũng kiêng kỵ, cũng tránh né.
Gia Cát Nguyệt cười cười, "Ba người chúng ta đánh nhau nhiều năm như vậy, ít nhiều cũng hiểu nhau mấy phần. Đánh tới đánh lui đến giờ vẫn không phân được thắng bại, hiện giờ chính quyền bên nào cũng chỉ vừa mới ổn định, chẳng ai thừa hơi đi phát động chiến tranh quy mô lớn. Đánh mãi cũng không đến đâu, chiến tranh không phải là biện pháp giải quyết vấn đề triệt để trong tình hình này, phương pháp hay nhất vẫn là đàm phán. Đại lục Tây Mông chìm trong nội chiến đã hơn mười năm, cũng đến lúc nghỉ ngơi một thời gian rồi."
Sở Kiều nghe nói thì khẽ thở dài, tựa vào lòng Gia Cát Nguyệt, lặng lẽ nói: "Cũng chỉ hy vọng có thể được như thế."
Người Khuyển Nhung hùng hổ công phá Mỹ Lâm Quan tiến vào đại lục, toàn bộ dân chúng Tây Mông đều hận đến sôi gan. Có điều, bọn họ chắc cũng không biết, đám người kia đến, tuy mang theo gió tanh mưa máu nhưng cũng đồng thời đưa đến một tia hy vọng của hòa bình chân chính cho đại lục.
Bắc Sóc... Nàng rời khỏi mảnh đất kia đã bao nhiêu năm rồi?
Không ngờ vẫn còn có ngày trở về.
Ngoại truyện 12: Danh tướng—Lịch sử không nêu rõ chi tiết diễn biến mà chỉ ghi lại kết quả, nhưng dân chúng lại nhớ kỹ ơn cứu mạng, người này hoàn toàn xứng với danh xưng đệ nhất danh tướng của Tây Mông—
Nếu thế giới này thật sự có cái gọi là tận thế và tuyệt chủng thì năm 785 theo lịch Bạch Thương chính là khoảng thời gian gần nhất với định nghĩa của mấy từ này. Mùa xuân năm này, Yến Tuân, Triệu Triệt ở Bắc Địa, và cả Gia Cát Nguyệt ở Thanh Hải đều lần lượt ra quân, thuộc địa của Đại Yến là Hoài Tống cũng nhiều lần nảy sinh xung đột với Biện Đường, lửa chiến tranh trên đại lục bốc cao tận trời. Tất cả đều mải mê với nội chiến mà không hề hay biết rằng, trên lãnh thổ Đại Yến âm thầm xuất hiện một thế lực cường đại và tà ác đang chậm rãi bành trướng.
Đầu tháng 4 năm 785, một tin tức truyền ra đã chấn động toàn bộ đại lục, khiến dân chúng vừa mới có được sáu năm sống yên bình kinh hãi: Phản thần của Biện Đường là Tĩnh An vương phi dẫn dắt ba ngàn binh mã âm thầm xâm nhập Mỹ Lâm Quan, trong ứng ngoài hợp với quân Khuyển Nhung đã mai phục ở quan ngoại từ trước tấn công cửa khẩu, mở rộng đại môn của Mỹ Lâm Quan để người Khuyển Nhung tràn vào. Toàn thể quan binh đóng giữ ở Mỹ Lâm Quan, tổng cộng hơn hai vạn tám ngàn người đều anh dũng hy sinh vì tổ quốc, không một ai sống sót.
Cùng lúc đó, một tin tức khác cũng nhanh chóng lan khắp đại lục.
Đến lúc này mọi người mới biết vị Tĩnh An vương phi thân phận bí ẩn kia chính là Bát công chúa Đại Hạ khi trước. Chẳng ai rõ nàng ta được Khuyển Nhung che chở từ khi nào, chỉ biết nàng ta đột ngột lộ ra thân phận, tuyên bố mượn binh Khuyển Nhung nhằm giành lại giang sơn Đại Hạ cho Triệu thị, rầm rộ phát binh tấn công phía đông Đại Yến dưới cờ báo thù phục quốc.
Đại hãn vương của Khuyển Nhung là Nạp Nhan Minh Liệt cũng hát vang bài ca mong muốn duy trì huyết mạch hoàng thất chính thống của nước bạn, giơ cao khẩu hiệu tiêu trừ phản tặc, hùng hồn xua binh đến biên giới phía đông Đại Yến.
Đây là lần thứ ba Triệu Thuần xuất hiện trên lịch sử võ đài của đại lục.
Lần đầu tiên là ngày 20 tháng 5 năm 775, buổi hôn lễ nhấn chìm thành Chân Hoàng trong biển máu tanh, tân nương Triệu Thuần nhờ hôn phu Yến Tuân mà phút chốc trở nên nổi danh, biến thành trò cười của toàn thiên hạ. Năm đó, Triệu Thuần mười sáu tuổi.
Lần thứ hai là đầu tháng 9 cùng năm đó, Yến Tuân thành công thoát khỏi thành Chân Hoàng, Bắc Yến tuyên bố độc lập, Đại Hạ nóng ruột đề nghị kết thân với Biện Đường. Sau khi Cửu công chúa Triệu Nghiên bị Lý Sách đuổi về nước, Triệu Thuần đơn thương độc mã đến Biện Đường trên danh nghĩa công chúa Đại Hạ tới hòa thân, đường hoàng xuất hiện trước mặt hoàng thất Biện Đường, nhưng cuối cùng lại xảy ra một sự kiện bôi nhọ rùm beng, vì tội kích động Trung ương quân làm phản mà bị trục xuất khỏi Biện Đường. Do không cam lòng, lại được Lạc vương khi ấy vẫn còn che giấu thực lực giúp đỡ, cùng năm đó nàng ta kết đồng minh với đại tướng Trọng Bành của Biện Đường sắp đặt kế hoạch khởi binh tại hoàng lăng trên Mi Sơn, mưu đồ tạo phản. Nhưng cuối cùng kế hoạch bị Lý Sách khi ấy vẫn còn là thái tử đoán được, về sau không còn nghe thấy tin tức của người phụ nữ này nữa.
Mãi đến mười ba năm sau, tức hiện giờ, nàng ta lại dùng thân phận Tĩnh An vương phi nghênh ngang mở rộng Mỹ Lâm Quan, mượn tám mươi vạn hùng binh từ dị tộc ở thảo nguyên, tự mình ra trận, dung túng lang sói Khuyển Nhung tràn vào tàn sát toàn bộ trung nguyên.
Bất kể là sau bao nhiêu năm, nhưng mỗi lần hồi tưởng lại, chẳng ai không thừa nhận đó quả thật là một kiếp nạn khủng khiếp đến cực độ. Ngay cả danh tướng hàng đầu đại lục như Gia Cát Nguyệt, Triệu Triệt hay Yến Tuân đều không ngờ tình thế có thể đảo lộn nhanh đến như vậy. Lúc mới được tin, Gia Cát Nguyệt còn cho rằng: Thay vì chờ đám người này đánh tới trước cửa, không bằng nhanh chân giải quyết bọn chúng trước, thuận tiện uy hiếp đòi Yến Tuân chút phí tổn luôn.
Chẳng ai ngờ được chiến cuộc lại có thể trở nên thảm thiết đến nhường này.
Nói đến Khuyển Nhung, có lẽ ấn tượng đầu tiên chính là một bọn man di tứ chi phát triển đầu óc mê muội. Trăm ngàn năm qua, dân tộc dũng mãnh này vẫn lởn vởn bên ngoài Mỹ Lâm Quan. Cuộc sống của bọn họ là những ngày rong ruổi trên lưng ngựa, chọn chỗ gần đồng cỏ và nguồn nước mà ở, không có nơi trú ngụ cố định, không có thành thị, không có chính quyền đồng nhất, không có trang bị tiên tiến, càng không có tướng chỉ huy ưu tú. Lúc lâm trận căn bản đều do thủ lĩnh dẫn một đám dân du mục cưỡi ngựa xung phong, gặp địch yếu thì xông lên chém giết, gặp địch mạnh thì quay đầu bỏ chạy.
Thế nên mỗi lần nói đến bọn họ, gần như toàn bộ quan binh ở đại lục đều khinh thường mắng một câu: Đồ mọi rợ!
Nhưng chưa hề có ai ngẫm qua, từ năm 775 khi Bắc Yến giành được độc lập đến năm 782 khi Đại Hạ diệt vong, cùng sáu năm nội chiến liên tục, đại lục Tây Mông thời loạn thế đã trải qua mười ba mùa đông. Còn Khuyển Nhung lại đi qua đoạn thời gian mười ba năm hết sức yên ắng, ngoại trừ mấy trận cướp bóc quy mô nhỏ thì bọn họ không hề phát động bất kỳ cuộc chiến toàn diện nào.
Mười ba năm, đủ khiến cỏ vàng trên thảo nguyên thay da đổi thịt hóa cỏ xanh hơn chục lần, đủ thời gian cho trẻ con học thành kỹ năng cưỡi ngựa múa đao. Dòng máu hiếu chiến ngủ đông suốt mười ba năm của người Khuyển Nhung cuối cùng lại bắt đầu sôi trào.
Mỹ Lâm Quan biến thành thông lộ mở đường cho kỵ binh Khuyển Nhung tràn vào, quân số như biển, đao thương tựa rừng, chiến mã điên cuồng hí to, tên nhọn như mưa. Khí thế đủ khiến quân binh canh giữ các thành phụ lân cận Mỹ Lâm Quan không đánh mà bại, phải bỏ thành chạy trốn.
Ngày 13 tháng 4, sáu bộ lạc lớn của Khuyển Nhung là Hồng Địch, Hoàng Mãng, Lam Tương, Hạt Huyết, Bạch Thượng, Hắc Thủy tụ họp với bốn bộ lạc đã đến Mỹ Lâm Quan từ trước. Đại hãn vương Nạp Nhan Hồng Liệt cũng kéo theo thân binh đến đây, mười một bộc lạc Khuyển Nhung đã tề tựu đầy đủ, nhân số đạt đến hơn một trăm năm mươi vạn.
Máu của các chiến sĩ Đại Yến còn chưa khô thì đại quân Khuyển Nhung đã xông vào chiếm giữ trung tâm thành. Dân chúng thấp thỏm trốn rịt trong nhà không dám phát ra tiếng động nào, sợ sẽ chọc phải sát tinh đến từ phương bắc này. Có điều do quân số quá đông, quân doanh trong thành không đủ chỗ, Tam vương tử Thác Cáp của Khuyển Nhung chỉ hừ một tiếng rồi dẫn thân binh giết bớt dân, chiếm cứ mấy trăm gian nhà cho đội của mình.
Chính hành động này đã mở đầu cơn ác mộng tanh tưởi mùi máu của người dân Mỹ Lâm Quan. Rất nhanh sau đó, thủ lĩnh của các bộ lạc khác liền học theo, đến khi Nạp Nhan Minh Liệt biết được thì trời đã tối, Mỹ Lâm Quan đã không còn một người dân nào sống sót.
Liên tiếp mười ngày, Triệu Thuần cùng thuộc hạ của mình ở rịt trong phủ tổng binh của Mỹ Lâm Quan. Tiếng chém giết, tiếng kêu thét thảm thiết, tiếng mắng chửi phẫn nộ, ánh lửa cháy phừng phừng, tiếng khóc nức nở của phụ nữ bị cưỡng hiếp không ngừng đập tan sự yên lặng của bóng đêm, truyền đến từng ngóc ngách nhỏ của thành Mỹ Lâm.
Gã thuộc hạ tái mặt hỏi nhỏ: "Vương phi, đám người thảo nguyên kia điên rồi, bọn họ đang tàn sát dân thường."
Triệu Thuần ngồi trong bóng đêm, lẳng lặng không nói tiếng nào, tựa như không hề nghe thấy lời thuộc hạ nói.
Triệu Thuần không hề biết, bên trong phòng hội nghị cách vách, đám thủ lĩnh Khuyển Nhung đã trải rộng bản đồ bắt đầu tính toán kế hoạch chia chiến lợi phẩm, sau khi công phá được Mỹ Lâm Quan, chiếm lấy toàn bộ thổ địa đại lục đối với bọn họ là chuyện dễ như trở bàn tay. Mười một thủ lĩnh mặt đỏ tía tai tranh cãi một hồi, nhờ có sự can thiệp của Đại hãn vương mới miễn cưỡng thỏa thuận xong. Trời vừa sáng, thủ lĩnh các bộc lạc liền nhanh chóng dẫn nhân mã của mình rời khỏi Mỹ Lâm Quan, chia đường chạy thẳng về phía trung tâm đại lục phồn hoa.
Trong tất cả thế lực trên đại lục, bao gồm cả thuộc địa Hoài Tống, Thanh Hải là phe đầu tiên đứng ra tỏ ý sẵn sàng điều động toàn bộ binh lực giúp Đại Yến chống lại Khuyển Nhung. Ngay sau đó, trước ánh mắt dõi theo của tất cả mọi người, song vương của Thanh Hải điều binh tụ tập ở Thùy Vi Quan, rút về tất cả quân nhân từng có hiềm khích với Đại Yến, mở cửa khẩu tiến về phía bắc giúp đỡ thành Bắc Sóc đang bị vây hãm.
Phe Thanh Hải cùng lúc chia ra ba đường, một do Thanh Hải vương Gia Cát Nguyệt dẫn dắt quân chủ lực đi giải vây cho Bắc Sóc, một do Đại tướng quân Nguyệt Thất mang theo thư của Gia Cát Nguyệt đến Bắc Địa tìm Triệu Triệt, còn Tú Lệ vương Sở Kiều thì bí mật tới Biện Đường bàn luận kế hoạch xuất binh.
Đầu tháng 5, Triệu Triệt đồng ý với đề nghị của Gia Cát Nguyệt, dẫn binh đến cao nguyên Bắc Yến. Mà Yến hoàng cũng yên tâm mở rộng biên giới để nghênh đón kình địch ngày thường vốn hận mình đến thấu xương này tiến vào quốc thổ Đại Yến.
Và từ ba ngày trước, Đường hoàng Lý Tu Nghi cũng đã trao quyền cho thái phó phụ chính Tôn Đệ, phối hợp với Tú Lệ vương Sở Kiều dẫn hai mươi vạn đại quân lên đường đến Đường Hộ Quan.
Quả thực là một tình cảnh khôi hài quá sức tưởng tượng, nếu Khuyển Nhung không ào vào thì người đời nghĩ nát óc cũng chẳng thể ngờ được sẽ có một ngày như vậy. Suốt sáu năm nay, bốn thế lực này liên tục chiến tranh, cứ mười này đánh một trận nhỏ, mỗi tháng đánh một trận lớn, hận nhau đến mức vừa thấy là lập tức lăn xả vào nhau. Chẳng ai ngờ được sẽ có một ngày bọn họ có thể chung tay chống địch.
Bất kể là thời nay hay thời sau, không người nào có thể phủ nhận vai trò của Tú Lệ vương trong diễn biến này.
Nàng từng là chủ nhân của Thượng Thận, là thần bảo hộ của cao nguyên Bắc Yến, là thân tính số một của Yến hoàng, là đại tướng từng giúp Bắc Sóc chống cự với trăm vạn quân binh Đại Hạ. Còn hiện giờ, nàng là thê tử của Thanh Hải vương, đồng thời cũng là thân vương phụ chính của Biện Đường, phu quân nàng và người nắm quyền Bắc Địa là Triệu Triệt có quan hệ hết sức thân cận, tướng lĩnh dưới quyền nàng lại đa phần xuất thân từ cao nguyên Thượng Thận.
Ngoài ra, ban đầu khi Khuyển Nhung dấy binh xâm lăng, Bắc Địa khoanh tay đứng nhìn, Biện Đường thờ ơ như không, thuộc địa Hoài Tống có dụng ý riêng, Đại Yến một mình thọ địch, vừa phải chống cự quân xâm lăng vừa phải phòng bị những thế lực này. Chỉ có nàng là đoán được diễn biến sắp đến của cuộc chiến, chính nàng đã bình tĩnh nhận ra dã tâm nung nấu hơn mười năm qua của người Khuyển Nhung, quyết đoán vứt hết mọi ân oán, bắt tay vạch ra chiến lược tỉ mỉ, cũng tích cực bôn tẩu liên lạc với các thế lực còn lại, thuyết phục bọn họ đồng tâm hiệp lực.
Người làm công tác phối hợp này, chỉ có nàng là thích hợp nhất. Cũng chỉ mình nàng mới bình thường hóa được mọi xung đột cùng mâu thuẫn, tạm thời áp chế mọi hoài nghi giữa các phe, cũng chỉ nàng mới có khả năng thúc đẩy sự liên kết này.
Sự rối rắm trong chuyện này, người thông minh nhất suy tính đến nát óc cũng không thể gỡ, nhưng nàng lại làm được.
Nhận được tin Biện Đường, Thanh Hải, Bắc Địa và Đại Yến đồng thời xuất binh, Đại hãn vương của Khuyển Nhung tức giận đến tột độ. Trước khi tấn công Mỹ Lâm Quan, bọn họ cũng từng nghĩ đến cục diện này, nhưng khi ấy tất cả thủ lĩnh của các bộ tộc đều cười phì một tiếng rồi bỏ qua.
Cũng khó trách, ai chẳng biết quan hệ dây mơ rễ má giữa Yến Tuân và ba thế lực kia chứ? Mấy người đó không nhân cơ hội thọc Yến Tuân một đao là đã nhân từ lắm rồi, làm gì có chuyện chạy tới giúp đỡ?
Nhưng thực tế ở ngay trước mắt, trực tiếp đập nát ảo tưởng tiêu diệt Đại Yến trong một tháng, san bằng toàn đại lục trong hai tháng và xưng bá phương đông trong vòng nửa năm của đám người đến từ quan ngoại này.
Thẹn quá thành giận, người Khuyển Nhung càng thêm điên cuồng giết chóc, kỵ binh *rầm rập* đánh thẳng vào trung tâm Bắc Yến.
Ngày 23 tháng 5, Bắc Sóc Quan lại một lần nữa trở thành tiêu điểm của cả đại lục, quân chủ lực của cả bốn quốc gia tề tụ ở bình nguyên Hỏa Lôi, tổng số lên đến một trăm hai mươi vạn.
Trước khi khai chiến thì phải đề ra tổng thống soái, bên Đại Yến dĩ nhiên không nhân nhượng đề nghị Yến Tuân, bên Thanh Hải đẩy Gia Cát Nguyệt lên, Bắc Địa có hai ý kiến, các tiểu quốc phía tây Bắc Địa đề cử Triệu Triệt, nhóm thống trị biên cảnh giáp với Bắc Yến thì ủng hộ Triệu Dương, Đường hoàng Lý Tu Nghi không ra trận nhưng Tôn Đệ vẫn báo tên cậu bé xí phần, nói có thể ngày ngày dùng bồ câu đưa thư hỏi xin ý kiến cao minh của tiểu hoàng đế nhà mình.
Đủ loại ý kiến nêu ra, bên nào cũng không chịu thua, ầm ĩ đến mức suýt sập trướng, tranh luận hết hai ngày mà cũng chưa có được một thỏa thuận đồng nhất. Cuối cùng, Tôn Đệ không nhịn được nữa, quăng ra đề nghị muốn Tú Lệ vương Sở Kiều đảm nhiệm chức tổng soái của chiến dịch này thì mọi tranh cãi mới tạm thời dịu lại.
Sở Kiều là Thanh Hải vương phi nhưng trên danh nghĩa cũng là thân vương phụ chính của Biện Đường. Dựa vào quan hệ giữa nàng và tiểu hoàng đế Lý Tu Nghi, thêm chiến tích bảo vệ Đường Kinh năm đó, trên dưới Biện Đường dĩ nhiên đều gật gù tán thành. Phe Thanh Hải trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng Gia Cát Nguyệt thoải mái chọn ủng hộ vợ nhà mình. Kế đó Triệu Triệt cũng về phe Gia Cát Nguyệt. Triệu Dương ban đầu tham dự cũng chỉ vì không muốn để Triệu Triệt và Yến Tuấn chiếm lợi, cho nên cũng sảng khoái đồng ý. Chỉ mình Đại Yến đến sáng ngày thứ hai mới chậm chạp thông truyền ý kiến của Yến hoàng: Không có dị nghị.
Thế nên, chiến dịch rầm rộ quy mô lớn nhất trong lịch sử đại lục này, liên quân toàn do tinh binh hợp thành này chợt quy về dưới trướng của Sở Kiều. Một trăm hai mươi vạn nam tử hán lại do một người phụ nữ dẫn dắt.
Ngày 25 tháng 5, kế hoạch phòng thủ thành Bắc Sóc chính thức được triển khai.
Sở Kiều điều động sáu mươi vạn binh sĩ cùng năm mươi vạn dân phu bắt tay xây dựng tuyến phòng ngự dọc theo núi Lạc Nhật. Nàng thiết kế chiến hào và cạm bẫy đặt dày đặc từ chân núi đến tận cổng thành, chốt phòng thủ cắm chi chít như sao trên trời, trải rộng khắp một vùng.
Vậy nên khi quân tiên phong của Khuyển Nhung chạy tới, Tam vương tử Thác Cáp khiếp sợ đến không thể khép miệng khi nhìn thấy bày trí phòng thủ trước mắt. Phản ứng đầu tiên của hắn chính là cảm thán: Đối phương bị điên rồi.
Phòng ngự như vậy sẽ chẳng ai điên tự tìm chết công kích thẳng vào. Thế nên Tam vương tử đương nhiên quả quyết chọn một con đường khác – chính là Xích Độ.
Không thể trách Thác Cáp không thông minh, dù sao thì đối mặt với hàng phòng ngự chặt chẽ này, ai dám có gan đi tấn công chứ?
Nhưng hắn lại không biết, đằng sau hình ảnh phòng ngự rầm rộ như vậy chỉ có năm mươi vạn dân phu tay không tấc sắt, bọn họ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất chính là giơ cao cờ chiến, có người đến thì dậm chân hô hào khiến bụi tung mù mịt.
Chỉ thế mà thôi.
Trong khi đó, bên trong thành Xích Độ nhỏ bé lại đang có hơn tám mươi vạn đại quân mai phục, kiên nhẫn chờ đợi hắn đến.
Kết quả không cần nói cũng biết. Sau ba ngày chiến đấu liên tục, mười vạn quân của Thác Cáp chết dần chỉ còn bốn vạn, nước sông Xích Độ nhiễm đỏ máu tươi, nhiều ngày cũng không thể dùng làm nước uống.
Thác Cáp không có lương thực dự trữ nên lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Mà liên quân lại chơi chiêu thay nhau ra trận, từ từ hành hạ bòn rút thể lực binh sĩ của hắn.
Sang ngày thứ năm, cuối cùng bên Thác Cáp cử người đến báo tin muốn giơ vũ khí đầu hàng.
Nhưng từ đại bản doanh liên quân lại hạ một lệnh khiến tất cả đều chấn động, yêu cầu xin hàng không được chấp nhận, trừ phi bọn họ đưa ra đầu Thác Cáp để an ủi vong linh của hai mươi vạn dân binh ở Mỹ Lâm Quan.
Thác Cáp tức giận, ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát thân.
Hai ngày sau khi xin hàng, hắn bị thân binh của mình giết chết ngay trong đêm, tất cả thuộc hạ giơ vũ khí đầu hàng, bị liên quân bắt làm tù binh.
Đây chính là thắng lợi đầu tiên của người Tây Mông kể từ khi Khuyển Nhung đặt chân vào đại lục đến nay.
Bằng chiến thuật táo bạo và sự sáng suốt gan dạ của mình, Sở Kiều đã vây hãm mười vạn đại quân, giảm thiểu tối đa thương vong bên mình, giết bảy vạn kẻ địch, bắt giữ ba vạn làm tù binh, lấy được thủ cấp của thủ lĩnh địch, giành toàn thắng.
Tin tức truyền ra khắp Tây Mông, tất cả người dân đều vỗ tay tung hô.
Tối hôm đó, Triệu Triệt ngồi trong đại trướng của phe Thanh Hải, rót đầy rượu kính Sở Kiều rồi nói: "Cô hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu đệ nhất danh tướng của Tây Mông."
Sang ngày thứ hai, Sở Kiều chỉnh đốn đại quân rút về Bắc Sóc, bêu đầu của Thác Cáp ngay trước trận phòng thủ, lẳng lặng chờ đợi Đại hãn vương của Khuyển Nhung – Nạp Nhan Minh Liệt.
................................................................................................
Từ phía quân đội Khuyển Nhung chợt truyền ra tiếng chiêng trống dồn dập, cờ chiến bay *phần phật*. Lính liên lạc hốt hoảng rút về báo tin, tướng chỉ huy lộ vẻ mặt lo âu, lập tức lớn tiếng gào to.
Cảnh tượng vô cùng hoảng loạn.
Gia Cát Nguyệt nhíu mày, nhẹ thúc bụng ngựa tiến lên, đội kỵ binh nhanh chóng tách ra nhường đường. Giữa hoang nguyên đầy cỏ vàng, bóng dáng mặc giáp sắt đen khoác áo lông xanh thẫm của nam tử tuấn tú nhìn tựa một thượng thần từ Thiên Sơn, sau lưng hắn là dãy núi tuyết trải dài trùng điệp. Gió từ xa thổi lại khiến tóc mai nam tử tung bay, mắt sâu thăm thẳm, môi đỏ thẫm, khí tức tà mị cao quý như lang vương của đỉnh núi tuyết.
Hắn thúc ngựa tiến lên, chăm chú quan sát phía đối diện, mi tâm nhíu chặt.
Chỉ mới vừa khai chiến, đến cùng là chuyện gì mà có thể khiến đám người Khuyển Nhung vốn dũng mãnh tự phụ lại hoảng loạn như thế?
"Vương! Mé tây núi Lạc Nhật phát hiện rất đông kỵ binh Bắc Yến, đang phi hỏa tốc đến đây." Thám báo thúc ngựa tới, nhanh chóng xuống ngựa quỳ trên mặt đất lạnh như băng, cao giọng báo cáo.
Gia Cát Nguyệt nhíu mày, im lặng suy nghĩ một chốc rồi trầm giọng hỏi: "Bao nhiêu người? Là ai dẫn binh?"
"Tạm chời vẫn chưa rõ."
"Tiếp tục do thám."
"Rõ."
Vó ngựa cuồn cuộn, hai đội thám báo mang theo ấn tín của Thanh Hải rời đi. Mặt trời đỏ rực ngả về phía tây, nhuộm hồng cả một vùng. Vây giết truy đuổi liên tục tám ngày, hôm nay chính là trận cuối cùng.
Quân Bắc Yến? Rốt cuột là ai? Nhanh như vậy đã đánh xong trận ở Thượng Thận rồi?
Gia Cát Nguyệt xoay người trở về đại trướng, trải rộng bản đồ ra trên bàn. Trời bên ngoài đã tối, hắn chăm chú ngồi trước bàn, hai ngọn nến trên bàn lẳng lặng cháy, tỏa ra ánh sáng dìu dịu.
Người Khuyển Nhung công phá cửa khẩu, trên đường đốt giết cướp bóc liên tục, cũng may Yến Tuân phản ứng nhanh, kịp thời sơ tán dân chúng biến Bắc Yến trở thành vườn không nhà trống chờ đợi kẻ địch. Nhưng dân chúng ở Mỹ Lâm Quan thì không may mắn như thế, toàn bộ đều chết dưới sự tàn sát của người Khuyển Nhung, ngay cả trẻ con mới chào đời cũng chịu cùng số phận. Thám báo lúc trước đưa tin về có nói, hai mươi tám thành trì lân cận Mỹ Lâm Quan không một bóng người, tất cả dân chúng trong thành, không phân biệt già trẻ lớn bé hay nam nữ gì, đều bị người Khuyển Nhung lôi ra khu rừng cách thành hai mươi dặm treo cổ tập thể. Lúc thám báo chạy tới thì chỉ nhìn thấy hình ảnh kền kền bu kín trên không trung, đang rúc rỉa xác người.
Lúc nghe tin, toàn bộ tướng lĩnh Thanh Hải có mặt trong trướng đều là mãnh tướng dày dạn sa trường nhưng cũng mặt trắng bệch, hồi lâu cũng không nói được một câu. Cuối cùng, chỉ có Lương Thiếu Khanh kinh hoàng thốt lên: "Bọn chúng có còn là người không vậy?"
Đương nhiên là người, hơn nữa còn là người sống sờ sờ, đang giơ chiến đao hùng hổ đi về phía bọn họ.
Gia Cát Nguyệt bất giác nhớ những lời Sở Kiều từng nói khi bọn họ rời khỏi Thanh Hải. Đây không phải là một cuộc chiến bình thường, đây không phải là trận tranh đoạt lãnh thổ giữa Đại Yến và người Khuyển Nhung từ quan ngoại, đây chính là một nền văn hóa muốn thôn tính một nền văn hóa khác, là sự dã man muốn nhuốm máu hủy diệt văn minh. Trong cuộc chiến này, không ai có thể làm ngư ông đắc lợi hay ở đằng sau chờ cướp thời cơ. Nếu để người Khuyển Nhung chiếm thế thượng phong, cho dù bọn họ có thể nhân lúc Đại Yến suy yếu giành lại vài mảnh đất thì sau đó sẽ phải trả giá đắt gấp mười gấp trăm lần.
Lúc được tin từ thám báo, hắn mới đột nhiên hiểu rõ lời nói này của nàng.
Đứng trước tình hình này, để tranh đấu nội bộ tồn tại chẳng khác gì tự hủy tường thành bảo vệ của bản thân. Đối mặt với kỵ binh Khuyển Nhung hung hãn, đối mặt với phương thức tác chiến tàn bạo như vậy, không ai có thể chỉ bo bo giữ thân, không ai được phép ngồi không hưởng lộc cả.
Trận thủ thành Bắc Sóc giành được đại thắng, hỏa pháo Sở Kiều phát minh trong lúc bảo vệ Xích Độ năm xưa đã phát huy tác dụng cực lớn.
Giằng co liên tục suốt nửa tháng, bên Khuyển Nhung thương vong nặng nề. Cuối cùng, bộ lạc Hắc Thủy bại trận trước, gã thủ lĩnh hoảng loạn dẫn tàn quân bỏ trốn khiến cánh trái của Khuyển Nhung hoàn toàn bỏ trống. Sở Kiều nhân cơ hội tiêu diệt phòng thủ cách trái của địch, làm tê liệt liên lạc giữa trung quân và cánh phải địch. Sau đó, nàng thuận thế tấn công dồn dập, khiến người Khuyển Nhung đánh trận nào bại trận đó. Bảy mươi vạn đại quân còn sống tựa như gặp phải đại dịch, các thủ lĩnh bộ lạc thi nhau dẫn thân binh chạy trốn.
Thừa thắng xông lên, Sở Kiều hạ lệnh phân liên quân thành bảy đạo chia ra đến bảo vệ Thanh Hải, Biện Đường, Bắc Địa bên Triệu Triệt, Bắc Địa bên Triệu Dương, Hoài Tống, Đại Yến và Bắc Yến, vừa đi vừa đuổi giết tàn binh của Khuyển Nhung.
Trách nhiệm của Gia Cát Nguyệt chính là khu vực núi Lạc Nhật, vị trí chủ chốt của cao nguyên Bắc Yến.
"Cấp báo ~!" Một thám báo nhanh chóng quay lại, lập tức tung mình khỏi ngựa, tay giơ cao một vật, nói to: "Vương, chiến dịch ở Thượng Thận vẫn chưa kết thúc, lần này quân Yến chỉ có ba ngàn kỵ binh, do hoàng đế Đại Yến dẫn đầu."
"Yến Tuân?" Gia Cát Nguyệt nhíu mày, cúi đầu nhìn lại, trong tay thám báo quả nhiên là kim tiễn của Yến Tuân.
Hắn im lặng nhìn mũi tên kia, mày khẽ chau, không nói tiếng nào. Lương Thiếu Khanh đứng bên cạnh nghe vậy thì buột miệng hỏi: "Sao hắn lại đến đây? Còn chỉ dẫn theo chừng ấy binh?"
"Lập tức truyền lệnh cho Nguyệt Thất điều thêm hai đội kỵ binh tấn công chủ lực của bên Khuyển Nhung. Bằng mọi giá phải xác minh được thân phận của kẻ cầm quân."
"Rõ!"
Trời sập tối, tiếng chém giết vẫn vang vọng như sấm, mặt trăng lên cao rồi lại rơi xuống. Gia Cát Nguyệt ngồi trong trướng suốt đêm không ngủ, trước bình minh, Nguyệt Thất cuối cùng cũng gửi tin về, có thể gần như khẳng định người trấn giữ doanh trại địch nơi này chính là Đại hãn của Khuyển Nhung.
Gia Cát Nguyệt cong môi nở một nụ cười nhạt, thảo nào, thì ra con sói đầu đàn đang ở đây, thảo nào Yến Tuân lại đích thân dẫn tinh binh chạy đến.
"Chuẩn bị giáp!" Gia Cát Nguyệt đứng dậy, ra lệnh. Ngay sau đó liền có thân vệ mang giáp trụ vào trong.
Thanh Hải vương mặc chiến giáp xanh thẫm, khoác áo choàng bạc, cầm chiến đao sải bước đến bên chiến mã. Kèn hiệu nhất thời vang vọng khắp quân doanh, Lương Thiếu Khanh vọt ra khỏi trướng của mình, kích động chạy tới nắm lấy cương ngựa của Gia Cát Nguyệt, hét to: "Vương, chớ có giả ngu với ta! Tiểu Kiều đã đặc biệt dặn ta coi chừng không cho vương tự mình ra trận!"
Gia Cát Nguyệt bất đắc dĩ nhìn hắn rồi khoát tay với phía sau, lập tức có người tiến lên kéo Lương đại học sĩ về trướng của mình.
"Ngươi – ngươi – ngươi, đồ nói mà không giữ lời! Tiểu Kiều sẽ mắng ta đến chết mất!" Tiếng hét như heo bị mổ vang lên, chấn động đến cả binh sĩ đang hăng hái chuẩn bị tác chiến.
Gia Cát Nguyệt lẳng lặng quay đầu nhìn về phía chiến trường đỏ lửa trước mặt, trầm giọng ra lệnh: "Lên đường."
Đại quân *rầm rập* xuất hành.
Cùng một lúc, ở cách đó không xa, một người đi đến cạnh Yến Tuân thấp giọng nói: "Hoàng thượng, Thanh Hải vương tự mình dẫn binh đến."
"Thế à?" Yến Tuân lạnh nhạt đáp lời, sau lại hơi nhíu mày, chẳng rõ vì sao, cảm giác phấn chấn thời niên thiếu khi bị giam cầm muốn thoát ra chợt ùa về, hắn nói bằng giọng hết sức kiên định: "Nhất định phải bắt được Đại hãn Khuyển Nhung trước quân Thanh Hải."
"Mạt tướng tuân lệnh!"
Đại quân Yến nhanh chóng xuất phát, để lại bụi mù cuồn cuộn sau lưng.
HẾT PHIÊN NGOẠI TRUYỆN



![[LingOrm] Mẹ kế ảnh hậu](https://img.wattpad.com/cover/389561862-256-k48047.jpg)
![[NGÔN] Vi Phu Từng Là Long Ngạo Thiên - Mặc Thư Bạch](https://img.wattpad.com/cover/389886500-256-k516749.jpg)


![[BHTT - Edit] Hoàng Hậu Ở Hiện Đại - Thập Điểm Hoa Khai](https://img.wattpad.com/cover/172109332-256-k472686.jpg)