Chương 156: Tự do vạn tuế
Mây đen che khuất mặt trời khiến bốn bề chìm trong u ám, gió Bắc điên cuồng quét qua trên chiến trường.
Thời gian trôi qua một cách chậm chạp, gió đầu thu mang theo hàn khí đặc trưng của phương Bắc càn quét khắp nơi. Từ rạng sáng đến giữa trưa, từ giữa trưa đến hoàng hôn, máu tươi đã nhuộm đỏ bình nguyên Hỏa Lôi, hỏa vân hoa nở càng thêm rực rỡ, đẹp một cách yêu diễm. Vô số sinh mạng lúc sáng vẫn còn cười nói hiện nằm la liệt trên nền đất lạnh lẽo như băng.
Mặt đất đã mất đi màu sắc vốn có, diều hâu quanh quẩn trên không trung, không ngừng lao xuống thỏa thuê hưởng thụ bữa thịnh yến hiếm có này. Xác chết rải đầy bình nguyên, thương binh lê lết giữa biển thi thể, đau đớn gào thét, thanh âm bi thương như sói hoang vừa lạc đàn. Nhưng nhiều hơn nữa chính là những quân sĩ không còn sức để kêu, chỉ có thể nằm vật vờ trên mặt đất chờ chết, thỉnh thoảng bị quân y đang tìm kiếm người sống sót đá vào thì mới khẽ hừ một tiếng, biểu hiện mình vẫn chưa chết.
Đến đêm thì trời đổ mưa phùn lất phất, nước mưa lạnh giá rơi trên chiến trường, hắt lên những thi thể còn đang cháy trong chiến hào, khiến khói trắng bốc lên xèo xèo.
Trình Viễn giẫm lên đống thi thể mà đi, nhiều năm chinh chiến sa trường khiến khuôn mặt ẻo lả nhưng âm u của hắn như được phủ thêm một tầng bền bỉ kiên quyết. Phần đùi được băng bó sơ sài bằng vải bố trắng do bị trúng tên khiến bước chân của hắn có hơi khập khiễng.
Dưới bầu trời chiều, trên sườn núi không cao, bóng dáng áo đen đang đứng dưới một gốc Hồ Dương, trên đỉnh đầu là ưng kỳ Bắc Yến nhẹ bay phấp phới, dưới chân là cỏ khô vàng úa cuốn qua theo từng cơn gió, thỉnh thoảng tạo thành những vòng xoáy nhỏ. Ánh mắt thăm thẳm của nam nhân tựa như đang chăm chú nhìn gì đó, nhưng cũng như lướt qua chiến trường, lướt qua đồng tuyết mênh mông mà nhìn về phía chân trời đầy mây...
Sau một thoáng sững sờ, Trình Viễn im lặng đứng yên tại chỗ, không tiếp tục tiến lên nữa.
"Trình Viễn đó à? Lên đây đi." Yến Tuân hờ hững lên tiếng, cũng không hề quay đầu lại.
Trình Viễn đi lên sườn núi, khom người quỳ một chân xuống đất, trầm giọng nói: "Khởi bẩm bệ hạ, Tú lệ quân đã đột phá phòng tuyến Đông Nam của Huyền Vũ quân rồi, Huyền Vũ tướng quân điều thêm hai đại đội vẫn không ngăn được thế công của Sở đại nhân. Kỵ binh Tú lệ quân vòng qua thế công trực diện của cấm quân, trực tiếp chọc thủng cánh trái đội quân của Huyền Vũ tướng quân, mở đường chạy ra. Lúc chúng ta chỉnh đốn binh mã xong, muốn ngăn cản thì đã muộn, bọn họ đã chạy về phía Tây Bắc rồi."
Yến Tuân chỉ lẳng lặng gật đầu, không nói tiếng nào. Trình Viễn liếm liếm cánh môi khô nứt, tiếp tục nói: "Có điều, mạt tướng đã truyền tin cho Cao tướng quân và Lục tướng quân, bảo bọn họ đi lối tắt cản đường. Binh đoàn số 1 sẽ cử ra ba vạn quân mai phục ở nội cảnh Tây Bắc, cũng đã sắp xếp xong quân binh đón đầu ở Long Ngâm Quan, thủy lộ thông đến Biện Đường cũng bị chúng ta canh chừng nghiêm ngặt, Tú lệ quân có mọc thêm cánh cũng chạy không thoát."
Yến Tuân vẫn im lìm đứng đó, tựa như không hề nghe thấy gì. Trình Viễn hơi căng thẳng, nhỏ giọng hỏi dò: "Bệ hạ?"
"Nói tiếp đi."
"Quân ta thương vong nặng nề, đại đội 7 của binh đoàn số 3 đã bị tiêu diệt hoàn toàn, đội trưởng của đại độ 4, đại đội 8, đại đội 11 đều tử trận, binh sĩ dưới trướng cũng tử thương hơn phân nửa. Tướng quân Đỗ Nhược Lâm của đại đội 13 từ chối tác chiến, chỉ huy đã bị tạm giam nhưng binh lính hạ tầng vẫn không chịu nghe lệnh tham chiến. Giữ bọn họ ở đây chẳng những không có tác dụng mà còn hại chúng ta phải cử binh trông chừng nữa...
Yến Tuân nghe đến đây mới xoay đầu lại, khẽ nhướng mày, trầm giọng hỏi: "Từ chối tác chiến?"
"V...vâng, đúng vậy." Trình Viễn nuốt *ực* một cái rồi lựa lời phân bua, "Binh sĩ của đại đội 13 đều xuất thân từ cao nguyên Thượng Thận."
Gió lạnh khiến mưa phùn tạt lên sống mũi cao thẳng của Yến Tuân, hắn chậm rãi gật đầu rồi không nói thêm gì nữa.
"Bệ hạ, bắt giữ Tú lệ quân chỉ còn là vấn đề thời gian thôi. Nhưng mạt tướng có một câu, không biết có nên hỏi hay không."
Mặt Yến Tuân vẫn không chút thay đổi, "Nói đi."
"Vâng, nếu quân ta thành công bao vây Sở đại nhân, xin hỏi bệ hạ, chúng ta nên dùng phương thức tấn công thế nào ạ? Toàn lực công kích hay kéo dài thời gian chờ đối phương mệt mỏi, tiêu diệt hay bắt sống? Xin bệ hạ nói rõ."
Gió bên tai như chợt mạnh hơn, nam nhân lẳng lặng đứng yên, mặc cho gió lạnh tạt lên thân thể, vạt áo bay múa phần phật. Chiến trường xa xa vẫn còn thấp thoáng ánh lửa, kịch chiến cả một ngày đã tước đi nhuệ khí của binh lính, hiện tại, chỉ còn cảm giác mệt mỏi rã rời cùng hình ảnh giáp trụ rách nát.
Hai vạn cấm vệ quân, sau đó còn được chi viện bởi ba đại đội, vậy mà vẫn thất bại trước chín ngàn Tú lệ quân tìm đường chạy trốn. Dưới sự chỉ huy của Sở Kiều, Tú lệ quân tựa như lưỡi đao nhỏ, linh hoạt sắc bén gọt phá vòng vây của hắn, chuyện mà ba vạn Hỏa vân quân của Hoàn Hoàn không thể, nhưng nàng lại dễ dàng làm được.
Hắn không thể không thừa nhận, trên phương diện quân sự, A Sở quả thực chính là thiên tài hiếm có. Nàng luôn có thể khống chế cục diện chiến trận trong tay mình, uy tín cùng địa vị của nàng trong quân đội, ngay cả hắn cũng không bì kịp.
Yến Tuân chậm rãi thở hắt ra một hơi, đáy lòng như bị sóng biển vùi dập. Hiện tại, hắn không rõ mình nên thấy may mắn vì nàng đã chạy thoát, vì bản thân không bị tình cảm chi phối làm lỡ chuyện, hay là nên khổ sở vì nàng rốt cuộc đã rời bỏ hắn, không bao giờ quay đầu lại nữa?
Cảm giác trào phúng dần dâng cao trong lòng khiến Yến Tuân bất giác cười lạnh, hắn hờ hững đưa mắt sang nhìn Trình Viễn, bất chợt hỏi: "Trình Viễn, có biết tại sao nhiều người khuyên ta chớ nên trọng dụng ngươi nhưng ta vẫn bỏ ngoài tai không?"
Trình Viễn nghe hỏi liền kinh hoảng quỳ xuống, dập đầu nói: "Được bệ hạ ưu ái, mạt tướng chết muôn lần cũng không đủ báo đáp."
"Bởi vì ngươi rất giống ta khi trước."
Trình Viễn ngẩng đầu lên, kinh ngạc nhìn Yến Tuân.
"Ta biết, cha mẹ cùng toàn bộ thân nhân của ngươi đều đã chết trong chiến tranh, vợ và muội muội ngươi thì bị binh lính Đại Hạ bắt làm quân kỹ, ca ca ngươi cũng là tướng lĩnh của Đại Đồng, nhưng lại bị giết bởi sát thủ của hội."
Hai mắt Trình Viễn dần đỏ lên, hắn quỳ trên mặt đất, không nói bất kỳ chữ nào, hai môi trắng bệch.
"Ta biết ngươi muốn gì, cũng giống như ta, ta cũng biết mình đang mong muốn điều gì." Yến Tuân ngước lên nhìn ráng chiều đỏ như máu đang dần bị mây đen nơi chân trời lấn át, khẽ nhếch môi, từ tốn nói: "Trong lòng ai cũng ấp ủ mơ ước, nhưng muốn hoàn thành tâm nguyện thì trước tiên phải còn sống. Bằng không, chết rồi thì có bao nhiêu tâm nguyện cũng đều bị bỏ dở."
Trình Viễn đột nhiên cảm thấy khóe mắt nóng lên, lúc nhận ra thì nước mắt đã che phủ tầm mắt. Nam nhân bị toàn Bắc Yến mắng là tiểu nhân bỉ ổi siết chặt nắm tay, đầu cúi gằm.
Một bóng diều hâu xẹt qua trên không trung, Yến Tuân ngẩng lên nhìn nó, ánh mắt xa xăm dần mất đi tiêu cự. Hắn trầm mặc hồi lâu, cuối cùng trầm giọng nói: "Sức chiến đấu của Tú lệ quân quá mạnh mẽ, không nên đối đầu trực diện, hãy mở cửa biên giới, vờ lộ tin ra cho Triệu Dương và Ngụy Thư Diệp. Mùa đông sắp đến rồi, để A Sở thay chúng ta phá vỡ thế giằng co giữa Bắc Yến và Đại Hạ đi vậy."
Trình Viễn thoáng kinh hãi, tâm tư thâm sâu như hắn cũng khó che nổi vẻ khiếp sợ trên mặt. Một lúc lâu sau, hắn mới nhỏ giọng nói: "Quân Hạ đóng ở Nhạn Minh Quan hiện giờ đều là giáp binh hạng nặng, còn bên Sở đại nhân đều là khinh kỵ binh, mạt tướng không nghĩ Đại Hạ có thể kịp thời bày trận cản đường Sở đại nhân."
"Thế thì hãy trì hoãn bước chân của nàng." Dứt lời, Yến Tuân liền xoay người đi về phía thành Bắc Sóc sừng sững, chiến mã toàn thân đen tuyền đi theo bên cạnh.
Nắng chiều hắt lên người nam nhân, đổ xuống một cái bóng thật dài, dư âm câu nói sau cùng của hắn theo gió bay quanh quất trên thảo nguyên, "Truyền tin cho dân chúng ở Bắc Sóc, Thượng Thận, Hồi Sơn, bảo rằng Tú lệ đại nhân của bọn họ sắp sửa rời khỏi Bắc Yến."
Một cơn cuồng phong hất tung vạt áo nam nhân, bảo kiếm bên hông phản chiếu nắng chiều ánh lên màu đỏ rực rỡ, hắn nặng nề đi từng bước một, chậm rãi tiến vào thành trì to lớn nhưng tựa như lao tù kia, ở đó, có vô số xiềng xích bằng vàng đang chờ khóa chặt hắn lại. Khoảng đen nơi chân trời dần lan rộng, tiếng diều hâu thê lương vẫn văng vẳng trên không trung, như âm thanh của thần chết đang bao phủ khắp bầu trời bình nguyên Hỏa Lôi.
A Sở, ta đã từng nói, tất cả mọi người có thể phản bội ta, chỉ có muội là không thể, bởi vì muội chính là ánh sáng duy nhất chiếu rọi thế giới tối tăm của ta.
Hôm nay, mặt trời của ta đã không còn nữa.
Bốn bề thọ địch, tứ cố vô thân, đến khi không còn đường chạy, liệu muội có nhớ đến ta không?
A Sở, ta sẽ ở phía sau dõi mắt nhìn muội.
................................................................................................
Chiến trận ập đến một cách đột ngột, không hề có dấu hiệu báo trước, các tuyến quân Bắc Yến vẫn luôn giữ khoảng cách với Tú lệ quân nên ban đầu Sở Kiều còn ôm ảo tưởng rằng Yến Tuân không đành lòng xuống tay với mình. Thế nhưng, lúc nhìn thấy dân chúng tay xách nách mang dẫn theo con cái đứng bên ngoài Long Ngâm Quan, nàng thấy mình như chìm trong hầm băng sâu vạn trượng, hoàn toàn tuyệt vọng.
Trong nắng sớm, người dân líu ríu rồng rắn xếp thành một hàng dài vô tận, có người đẩy xe ngựa lớn chất đầy đủ hòm nhỏ hòm to, nồi niêu xong chảo va chạm vào nhau kêu *leng keng*, có người vung roi lùa đàn trâu bầy cừu vào hàng, phụ nữ ôm con nhỏ khóc oa oa, bất đắc dĩ phải ngồi xuống trên đá cuội ven đường cởi áo cho bọn bú, cũng có người gánh đầy khoai ngô đi theo làm lương thực dọc đường.
Mệt mỏi, cực nhọc, hoảng loạn, trên mặt bá tính hiện đủ loại sắc thái khác nhau. Nhưng khi nhìn thấy cờ xí của Tú lệ quân, bọn họ đều không hẹn cùng nhau hô lên mừng rỡ, lập tức chen nhau tiến lên, hướng về phía đội quân vừa đến, kêu to: "Đại nhân đến rồi! Đại nhân ở đây này!"
Một ông lão râu tóc bạc trắng dẫn cháu chắt mình chen lên, mặt bọn trẻ đều đã đỏ bừng vì lạnh, hăng hái hỏi Sở Kiều: "Đại nhân, chúng ta đi đâu vậy?"
"Phải đó, đại nhân, chúng ta đi đâu vậy?"
"Mặc kệ là đi đâu, chúng ta đều theo cùng, không để đại nhân đi một mình đâu."
"Đại nhân, sao đi mà cũng không nói trước một tiếng vậy? Làm ta không kịp thu hoạch cả hoa màu, nhưng cũng may là ta nhanh chân, bằng không thì không đuổi kịp rồi."
...
Các chiến sĩ của Tú lệ quân đứng giữa bình nguyên trống trải, không ai nói gì, không hẹn mà cùng quay đầu lại nhìn Sở Kiều. Thiếu nữ khoác áo choàng xanh thẫm ngồi trên lưng ngựa, thân mình cao thẳng như một cây thương sắc bén. Nét mặt trầm tĩnh, không chút dao động của nàng khiến các chiến sĩ bất giác yên lòng...
Không phải lo, đại nhân luôn tính toán như thần, nhất định đã sớm có dự trù.
"Đại nhân." Hạ Tiêu thúc ngựa chạy lên, gọi nhỏ bên tai nàng.
Sở Kiều chậm rãi quay đầu đi, khoảng cách giữa hai người họ đủ gần để Hạ Tiêu nhận ra vẻ hoảng hốt mơ hồ xẹt qua trong mắt nàng, trong lòng hắn đột nhiên sinh ra một tia buồn bã cùng thương tiếc. Sau nhiều năm ở cùng, hắn đã không còn chấp nhất dựa dẫm vào năng lực của người thiếu nữ trước mặt một cách mù quáng như ban đầu nữa. Hai năm qua, hắn chứng kiến nàng sa sút tinh thần, nhìn thấy nàng khóc, thấy được sự mềm yếu của nàng, biết được nàng cũng có lúc mờ mịt không biết nên làm gì. Nàng không phải là chiến thần bất bại như trong lời đồn, rất nhiều lúc, nàng chỉ là một cô gái trẻ tuổi cố chấp ngây ngốc nhận quá nhiều trách nhiệm cùng áp lực lên vai, thậm chí muốn khóc cũng chỉ dám trốn vào một góc không người lặng lẽ rơi lệ. Nhưng tất cả những điều này không hề ảnh hưởng đến lòng trung thành của hắn đối với nàng, ngược lại còn khiến hắn sinh ra một loại tình cảm phức tạp, như người thân, như huynh trưởng, như thuộc hạ, hay tri kỷ...
Nam nhân đưa tay ra, không nặng không nhẹ đặt lên vai nàng, trầm giọng nói: "Đại nhân, có Hạ Tiêu ở đây."
Đúng vậy, Hạ Tiêu vẫn còn đây, Tú lệ quân cũng ở đây, nàng không chỉ có một mình.
Nhưng ngay sau đó, hướng Nhạn Minh Quan đột nhiên xuất hiện bụi tung mù mịt, thám báo hối hả chạy về hồi báo: "Đại nhân, hai mươi dặm trước mặt, Triệu Dương đích thân thống lĩnh mười vạn đại quân đang gấp rút tiến về phía này, nếu bây giờ chúng ta bước ra khỏi cửa khẩu Long Ngâm Quan, tất sẽ rơi vào phục kích của bọn họ."
Nghe xong, Sở Kiều quả thực muốn cười to thành tiếng.
Yến Tuân à Yến Tuân, thủ đoạn quả thật tinh diệu!
Mở cửa khẩu nhường đường, không để hao phí một binh tốt nào, dùng dân chúng trì hoãn tốc độ của kỵ binh bên nàng, mượn tay Đại Hạ ngáng đường nàng. Đại Hạ có nghi ngờ tính xác thực của tin tức thì cũng không thể để nàng tự nhiên dẫn Tú lệ quân tiến vào lãnh thổ của bọn họ, mà e cho dù bọn họ biết rõ Yến Tuân có mục đích khác, cũng không thể bước ra nghênh chiến.
Hắn thấu hiểu tâm tư dân chúng Thượng Thận và Hồi Sơn, thấu hiểu suy nghĩ của nàng, đối với cách nghĩ của Triệu Dương thì càng rõ ràng hơn nữa.
Trên chiến trường, nàng có thể dựa vào chiến thuật cùng kiến thức binh pháp cao minh giành chiến thắng được một hai trận quy mô nhỏ. Nhưng nếu tính đến khả năng mưu tính lòng người, sự khôn khéo trong việc lợi dụng tình thế hay tâm cơ thâm sâu, nàng còn kém Yến Tuân rất xa.
Dân chúng cũng phát hiện phía Đông xuất hiện khói bụi ngập trời, hoang mang dần lan rộng trong đám đông, cho dù bọn họ vẫn còn hết sức tin tưởng, một lòng tâm niệm 'có đại nhân ở đây, không việc gì phải sợ', nhưng nghĩ đến Đại Hạ binh cường tướng mạnh, còn Tú lệ quân bất quá chỉ có chín ngàn người, bọn họ liền bắt đầu tỏ vẻ băn khoăn.
Hạ Tiêu quay người hướng về phía Long Ngâm Quan, có chiến sĩ hô to: "Binh lính giữ thành, xin hãy mở cửa thành để dân chúng vào!"
Kêu gọi hết ba lần thì mới có người hé đầu ra, từ tốn đáp: "Bệ hạ có lệnh, muốn vào thì xin mời binh sĩ Tú lệ quân vào thành trước."
"Quân Hạ sắp đến nơi rồi, xin hãy để dân chúng vào thành trước!"
"Bệ hạ có lệnh, mời binh sĩ Tú lệ quân vào thành trước!"
Cùng một câu đáp lời đơn điệu, lặp đi lặp lại không đổi. Cuồng phong chợt thổi mạnh, hất bụi đất bay tán loạn trên không trung, Sở Kiều ngước lên nhìn chiến kỳ hắc ưng cắm trên cổng Long Ngâm Quan, bất giác siết chặt nắm tay.
"Đại nhân?" Có binh sĩ thấp giọng gọi.
"Đại nhân!" Tiếng gọi càng lúc càng lớn, càng ngày càng có nhiều người vây quanh Sở Kiều.
"Đại nhân, làm sao bây giờ?" Dân chúng bắt đầu có người hoảng hốt lên tiếng hỏi. Đám trẻ con bị không khí căng thẳng dọa, không khỏi sợ hãi òa khóc.
"Đại nhân, làm sao đây?"
"Đại nhân, kẻ địch sắp đến rồi."
"Đại nhân, vào thành tránh địch một lúc cũng được mà."
"Đại nhân, trở về xin lỗi bệ hạ đi, ngài nhất định sẽ tha thứ cho đại nhân."
"Đại nhân, chúng ta thề quyết tử chiến, xin đại nhân cứ ra lệnh!"
"Đại nhân, đại nhân, đại nhân..."
Yến Tuân, đây chính là cái ngươi muốn đấy sao?
Sở Kiều ngước lên nhìn bầu trời cao rộng, cười lạnh lùng, chút yếu mềm do dự còn sót lại tận đáy lòng đều bị hiện thực đập tan.
Yến Tuân, ngươi đang hy vọng nhìn thấy gì vậy? Thấy ta tứ cố vô thân? Thấy ta bốn bề thọ địch? Thấy ta biến thành con chó vừa mất đi nơi nương tựa, bất đắc dĩ phải cụp đuôi hoảng hốt chạy về Bắc Yến, sau đó mừng rỡ vẫy đuôi với ngươi?
Yến Tuân, người đã quá xem thường ta.
"Các tướng sĩ, tất cả chuyện xảy ra mấy ngày vừa qua, tin rằng mọi người đều thấy được." Sở Kiều thẳng lưng ngồi trên lưng ngựa, giơ tay ra hiệu đám đông yên tĩnh lại, sau đó chậm rãi nói: "Vua của chúng ta, hoàng đế Bắc Yến đã phản bội lời thề từng lập với giang sơn Bắc Yến, chối bỏ mọi hứa hẹn từng lập trên đỉnh Hồi Sơn, hài cốt của dân chúng Trường Khánh vẫn còn đó, Đại Đồng Hành trung thành thì bị hoàng đế tận diệt. Ô tiên sinh, Vũ cô nương, Hoàn Hoàn quận chúa đều đã chết, Thương Biên tướng quân, Duệ Hi tướng quân, A Đồ thiếu tướng cũng bỏ mình vì dã tâm của thượng tầng Bắc Yến, hiện tại, lưỡi đao của hoàng đế cũng đã hướng về phía chúng ta. Các chiến sĩ, trước mặt mọi ngươi bây giờ là mười vạn đại quân của Đại Hạ đang sẵn sàng chờ đón chúng ta. Sau lưng chúng ta chính là đại quân Bắc Yến đã biến chất, bọn họ cũng đã chuẩn bị xong, chỉ chờ phỉ nhổ lên đầu chúng ta, cười nhạo chúng ta hèn nhát vô dụng. Còn bên cạnh chúng ta, là dân chúng bị chính nước mình lừa gạt, ruồng bỏ. Các chiến sĩ, chúng ta nên hướng về đâu?"
Giọng nói lạnh lùng lanh lảnh vang trên bình nguyên hoang vu, không ai nói tiếng nào, tất cả đều ngẩng đầu lên, dùng ánh mắc sáng rực nhìn Sở Kiều.
Sở Kiều đột nhiên nhảy xuống khỏi lưng ngựa, chỉ tay vào đám lính canh giữa Long Ngâm Quan, cao giọng hỏi: "Quay đầu lại làm tay sai cho kẻ độc tài, chịu cười nhạo bởi bọn người phản bội lời thề? Ruồng bỏ người dân của chúng ta, một mình chạy trốn? Hay là xông thẳng về phía kẻ địch đông gấp hai mươi lần chúng ta, giành lại tôn nghiêm cùng vinh quang của một người lính?"
Sở Kiều ngẩng đầu lên, hét to: "Các chiến sĩ! Các ngươi có muốn sống không?"
"Thưa muốn!" Bất kể là binh lính hay dân chúng, tất cả đều trăm miệng một lời. Tiếng rống vang vọng khắp tầng trời, kinh động cả chim chóc bay ngang.
"Các ngươi nguyện làm phản đồ sao?"
"Không hề!"
"Giữa cái chết và làm phản đồ, các ngươi chọn cái gì?"
Tất cả cao giọng hô to: "Thề không phản bội Đại Đồng!"
Sở Kiều đứng ngược gió, giơ tay hét to: "Các chiến sĩ, các hương thân, xin hãy theo ta, lắng nghe hiệu lệnh của ta! Nếu đã phải chết, hãy để chúng ta dùng máu tươi bảo vệ vinh quang của Đại Đồng! Dẫu đầu có rơi, máu có chảy, tín ngưỡng của chúng ta vĩnh viễn bất diệt, mãi mãi tồn tại. Bắc Yến vạn tuế! Đại Đồng vạn tuế! Tự do vạn tuế!"
Ngàn vạn cánh tay đồng loạt giơ lên không trung, tiếng gầm như núi thở biển rền vang vọng bốn phía: "Đại nhân vạn tuế!"
Chương 157: Bi ca ngút ngàn
Năm nay mùa đông đến rất sớm, mới tháng 9 trời đã giáng tuyết, tuyết rơi từng tầng phủ trắng lớp cỏ vừa nhú sau mưa.
Quân Hạ lại lùi binh, hiện đã bước sang ngày thứ ba kể từ khi Tú lệ quân bị vây khốn, bằng quy mô quân đội của đối phương, tiến độ tấn công này quả thật không như dự đoán. Triệu Dương chỉ một mực thận trọng vây quanh bên ngoài Long Ngâm Quan, ngăn cản Sở Kiều tiến vào lãnh thổ Đại Hạ chứ không hề có ý tấn công.
Hiện tại, tâm trạng hắn rất phức tạp, tấn công thì sợ mắc bẫy, nhưng hắn cũng sợ sẽ thật sự mất cơ hội giết chết Sở Kiều. Dù sao thì trong hai năm qua, tin Yến Tuân và Sở Kiều bất hòa đã sớm lan ra khắp nơi, Triệu Dương không thể nào không hay biết.
Đêm xuống, gió càng lúc càng mạnh, Sở Kiều đứng trên dốc núi nhìn ra chiến trường hoang tàn ở xa xa. Gió Nam ấm áp phả lên mặt nàng, khiến mái tóc dài xinh đẹp bay múa như cánh bướm.
Liên tục chiến tranh suốt ba năm qua, Long Ngâm Quan hiện đã được bồi đắp cao hơn Nhạn Minh Quan cả mấy trượng. Giữa hai cửa khẩu là một bình nguyên trống trải, cỏ mọc cao vút, tuyết rơi bám vào ngọn cỏ trắng xóa, mỗi khi có gió thổi qua, thảm cỏ dợn sóng như mặt biển trắng, phản chiếu ánh trăng màu bạc, đẹp đến chói mắt. Có đàn quạ bay xẹt qua, một con chúi xuống trong bụi cỏ quắp lên vật gì đó, sắc trắng thoáng lóe lên rồi mất dạng.
Chỉ nhìn thoáng qua Sở Kiều cũng nhận ra đó là cái gì, nàng lại đưa mắt về phía biển cỏ phủ tuyết kia, bi thương cùng chán ghét chậm rãi dâng lên từ đáy lòng.
Thảm cỏ ngút ngàn này đã chôn vùi bao nhiêu xương trắng bên dưới?
Chiến tranh chính là một cái miệng khổng lồ háu ăn có khả năng cắn nuốt vô số sinh mạng chỉ trong thời gian ngắn. Nơi nào nó đi qua, nơi đó chỉ còn lại hình ảnh nhà tan cửa nát, gió lạnh heo hút, âm u như chốn địa ngục.
Và nàng, có phải cũng chính là lưỡi đao tiếp tay cho nó hay không?
"A Sở..." Trong bóng tối, phảng phất như có tiếng thì thầm đang khẽ gọi nàng: "A Sở ơi..."
Đó chính là âm thanh nàng từng nghe rất nhiều năm trước, thiếu niên rúc vào cạnh nàng, phủ thêm chăn cho nàng, nhẹ giọng hỏi: "A Sở, muội có lạnh không?"
Năm đó, gió vừa mạnh vừa lạnh thấu xương...
Bóng chim bay qua sông, trước mặt là đồng tuyết bao la, trải dài ngàn dặm.
Có lẽ, đời người chính là một ván cờ chưa kết, đường hướng mông lung không rõ, bốn bề trắc trở, người chơi cờ không biết khi nào nên tấn công, khi nào nên thu tay. Lúc mới bắt đầu ván cờ, người chơi nào cũng ra sức hạ cờ, nhưng đôi khi, dù ngươi đã tận lực hết mình thì đến phút cuối vẫn càng lúc càng xa thắng lợi.
Sở Kiều chậm rãi nhắm mắt lại, trong đầu chợt xẹt qua rất nhiều hình bóng, Ô tiên sinh chính trực ôn hòa, Vũ cô nương điềm tĩnh mà cơ trí, Hoàn Hoàn hoạt bát hồn nhiên, Tiểu Hòa lương thiện trung hậu, Tiết Trí Viễn không màng mạng sống cảnh báo cho nàng, Văn Dương vì bảo vệ quân kỳ mà bị xử tử; Phong Thịnh, Mộ Dung và Ô Đan Du vung đao liều mình lao vào giữa vòng vây địch rồi bị chết dưới mưa tên, các chiến sĩ Tú lệ quân, dù còn sống hay đã chết; bá tính ở Thượng Thận và Hồi Sơn; thậm chí cả Tào Mạnh Đồng tự sát để tạ tội và những trưởng lão Đại Đồng cổ hủ kia...
Các chiến sĩ của nàng, hành quân mà trong tay không lương thảo cũng không tiếp tế, phải dẫn theo ngàn vạn dân chúng tay không tấc sắt ngay giữa trời đông lạnh giá. Từng phút một trôi qua, gót sắt kẻ địch đã dần không còn kiên nhẫn, trẻ em la khóc vì đói, mây đen tụ ở chân trời, không khí ngưng đọng, báo hiệu bão tuyết sắp đến.
Sở Kiều ngẩng đầu lên nhìn bầu trời bao la vô tận, như mơ hồ thấy được một đôi mắt khác, ánh mắt lặng lẽ nhìn nàng đã vĩnh viễn chìm dưới đáy hồ băng. Khi đó, mọi lạnh lùng cùng tức giận từng hiện hữu trong đôi mắt đó đều tan biến, thay vào đó là sự bình thản như đã nhìn thấu mọi chuyện, chỉ còn vấn vương lời dặn: Phải sống...
Ta biết rồi...
Sở Kiều khẽ cong khóe môi, ngước lên nhìn tầng trời cao rộng, mỉm một nụ cười rồi nhẹ giọng nói: "Ta sẽ kiên trì đến cùng..."
Dứt lời, nàng quay đầu lại nhìn quân doanh trải dài trước mặt, lẳng lặng nói: "Ta sẽ bảo vệ tất cả đến cùng..."
................................................................................................
Mùa thu năm 778 theo lịch Bạch Thương, quân Hạ lần đầu tiên chủ động bao vây Long Ngâm Quan, gần mười ba vạn binh mã từ bốn phương tám hướng kéo đến tụ tập quanh Long Ngâm Quan. Dựa vào các loại vũ khí tầm xa tầm gần không ngừng được vận chuyển đến, báo hiệu nơi này sắp sửa diễn ra trận chiến với quy mô cực lớn.
Lần này tuy vẫn là đối mặt với Sở Kiều, người từng đánh bại mình trên cả hai mặt trận ở Xích Độ và Bắc Sóc năm đó, nhưng Triệu Dương không hề lo lắng. Đầu tiên, Long Ngâm Quan rất gần với Nhạn Minh Quan, hắn lại chuẩn bị quân binh đâu vào đó, nếu phát hiện là bẫy thì cũng không mất quá nhiều thời gian liền có thể quay trở về. Thứ hai, lần này Sở Kiều không có thành trì để phòng thủ, cũng không có cung nỏ tầm xa, chỉ bằng chín ngàn khinh kỵ binh Tú lệ quân và một đám người già yếu bệnh tật muốn đối đầu với hơn mười vạn quân toàn binh giáp hạng nặng của hắn, quả thực chính là tự tìm đường chết. Thứ ba, trinh sát cài ở Bắc Yến cuối cùng đã trở về báo tin, bảy ngày trước, Yến Tuân và Sở Kiều quả thực từng đụng độ ở ngoài thành Bắc Sóc, chết hơn vạn người. Hơn nữa, hiện tại các nhân vật chủ chốt của Đại Đồng Hành đều đã chết sạch, chỉ còn lại một mình Sở Kiều. Nếu Yến Tuân làm tất cả những chuyện này chỉ để giăng bẫy đánh lừa Đại Hạ thì... Triệu Dương chỉ có thể nói, thủ đoạn độc ác tàn nhẫn của Yến Tuân đã đạt đến tầng cao mới, không ai bì kịp rồi.
Ngày 18 tháng 9, lúc trời chỉ mới hừng sáng, sương mù còn giăng dày đặc thì trống trận đột nhiên gióng lên từng hồi vang dội, phá tan sự tĩnh lặng của buổi sớm, mạnh mẽ dội vào trái tim thấp thỏm của Tú lệ quân và chúng bá tính.
Nắng sớm mới xuyên qua màn sương trắng, rọi lên bình nguyên mênh mông bát ngát, hàng hà sa số giáp quân Đại Hạ trải dài như đại dương đi từng bước thình thịch, tiếng động đinh tai nhức óc vang vọng cả một vùng. Dân chúng hoảng hốt la lên, túm tụm vào nhau kinh hoàng giữa bình nguyên mênh mông. Nhân số hai bên, tựa như cát bụi so sánh với núi đá.
"Trời ơi!" Có người nhỏ giọng cảm thán: "Cái gì vậy, tuyết lở à?"
"Chuẩn bị!" Đối diện chợt vang lên một tiếng hô sắc bén, theo sau đó là từng hàng bộ binh tiến lên phía trước kỵ binh, khuỵu một chân quỳ trên mặt đất, bày tư thế sẵn sàng.
"Ném!"
Trường thương lập tức vun vút bay lên không trung, vẽ một đường cong hoàn mỹ rồi lao thẳng xuống dưới. Một đàn chim xấu số vô tình bay ngang bị mưa thương xuyên thủng, máu tươi bắn tung tóe ngay giữa trời, lông vũ bay tán loạn. Dân chúng dưới đất vừa hoảng sợ há miệng, chưa kịp thét lên thì mưa thương đã lao xuống.
Bốn phía nhất thời vang vọng tiếng kêu gào tuyệt vọng xen lẫn tiếng ngựa hí, thê lương như một bản bi ca xuyên thấu trời xanh.
"Toàn quân dàn hàng! Xung phong!" Giữa tình cảnh mưa tanh gió máu đó, Sở Kiều vững vàng ngồi trên lưng ngựa, tay giơ cao chiến đao, một mình một ngựa lao lên trước tiên.
Tú lệ quân nhìn thấy cũng lập tức xông lên theo nàng, không một ai lộ vẻ do dự hay chần chừ. Trên mặt các chiến sĩ cũng có ít nhiều sợ hãi, nhưng bọn họ vẫn không hề lùi bước.
Hạ Tiêu bảo vệ bên cạnh Sở Kiều, lớn tiếng hô: "Các huynh đệ, không thể để bọn chúng tiến đến gần dân chúng thêm một bước nào nữa!"
"Xung phong!" Tiếng hét đinh tai nhức óc của các chiến sĩ khiến người nghe nhiệt huyết sôi trào.
Toàn thể người có mặt đều sững sờ, từ dân chúng Bắc Yến vừa cất tiếng kêu hét tuyệt vọng cho đến đại quân Bắc Yến đứng chờ theo dõi diễn biến trên cổng Long Ngâm Quan và binh tướng của Đại Hạ, bao gồm cả Triệu Dương. Không ai ngờ được, chỉ với quân số ít ỏi nhường đó mà Sở Kiều lại dám trực diện tấn công đại quân hơn mười vạn người của hắn, đối diện với biển đao gươm của địch mà không chút e dè. Sau thoáng bất ngờ, khi bình tâm nghĩ lại thì bọn họ mới nhận ra, địa thế nơi này là bình nguyên trống trải không chỗ phòng thủ, nếu để quân Hạ áp sát cửa khẩu sẽ liên lụy đến dân chúng, Sở Kiều đã lựa chọn làm như vậy, chính là vì muốn bảo vệ phụ nữ và trẻ em vô tội sau lưng mình.
Triệu Dương thoáng chấn động, một tia hoảng hốt chợt xẹt qua trong mắt, nhìn Tú lệ quân được thiếu nữ áo xanh dẫn đầu càng ngày càng tiến lại gần, máu trong người hắn dần nóng lên.
"Chúng tướng sĩ! Chẳng lẽ dũng khí của các ngươi còn không bằng một nữ nhân sao?" Vị thống soái trẻ tuổi của Đại Hạ quát to: "Toàn quân xung phong!"
Trong nháy mắt, biển người khoác giáp đen chợt gào to, đồng loạt lao lên theo khẩu hiệu xung phong, vạt chiến bào tung bay trong cuồng phong, khí thế như đại dương nổi bão.
"Tản ra! Dàn trận!" Sở Kiều ra lệnh.
Nhưng cái gọi là dàn trận của Tú lệ quân chỉ là sắp thành một hàng ngang thật dài đón đầu đại quân của địch. Chín ngàn chiến sĩ mặc chiến giáp đen, sánh vai nhau tạo thành một vòng tròn che trọn Long Ngâm Quan ở phía sau, kỳ hiệu hình mây lửa trên đầu vai đỏ rực dưới ánh mặt trời. Tay thủ chiến đao trước người, hai chân kẹp chặt bụng ngựa, bọn họ nhìn vó ngựa mịt mù bụi của đại quân ở đối diện, sắc mặt bình tĩnh và trầm mặc như đá.
Đây quả thực là điên cuồng tự sát!
Binh mã Đại Hạ càng lúc càng gần, bụi đất mù mịt, gần đến mức như nghe được hơi thở phì phò từ mũi ngựa. Cuối cùng, hai đội quân mạnh mẽ lao vào nhau, cuồng phong ngập trời, máu thịt cùng đao sắc tương giao, tiếng vũ khí va chạm chấn động cùng một lúc. Từng đợt tấn công liên tiếp không ngừng, bốn phía vung vẩy máu tươi, phòng tuyến mỏng manh như bị đá to vùi dập, máu tươi cùng tứ chi đứt đoạn chính là những gì còn lại sau mỗi tiếng gào thét thê thảm.
Chiến trận kịch liệt khiến không gian như chìm trong bóng đêm u ám, ánh mắt các chiến sĩ tràn ngập máu tanh, mặt đất dần chất đống thi thể. Tiếng đao kiếm, tiếng vó ngựa, tiếng gào thét, tiếng kêu rên thê thảm, tiếng mắng chửi cuồng nộ cùng tiếng hô hào xung phong hòa lẫn nhau thành một âm thanh hỗn tạp chói tai đến không chịu nổi. Đao kiếm va chạm tóe lửa, người bị thương dần đã không còn cảm giác đau, thôi rên rỉ lại vùng lên tiếp tục đánh chém. Nền tuyết trắng đã không còn nguyên dạng, mặt đất trải đầy tứ chi, lưỡi đao sứt mẻ cùng trường thương gãy khúc, máu tươi hòa với tuyết tạo thành lớp bùn nhão đỏ tươi. Ánh mắt các chiến sĩ bị máu che mờ đã không còn nhìn rõ phía trước, trong đầu chỉ còn duy nhất một suy nghĩ, đó chính là: giết, giết và giết! Những lời thiếu nữ nói trước khi lâm trận vẫn quanh quẩn bên tai bọn họ: Ai để kẻ địch công phá phòng tuyến sẽ chính là tội nhân của Tú lệ quân!
Vũ khí đã gãy thì xông lên cắn đứt cổ kẻ địch, không còn chiến mã thì chặt chân ngựa đối phương, kéo bọn chúng xuống cùng.
Tràng diện càng lúc càng kịch liệt, Hạ Tiêu cởi phăng áo giáp nặng nề, vung đao chém đứt đầu một gã quân Hạ. Máu tươi bắn lên mặt nhưng hắn vẫn không buồn để ý, tiếp tục tìm mục tiêu kế tiếp. Bộ dạng hung hãn không ngại chết đó đã khiến đối phương sợ hãi, kẻ địch xunh quanh đều nao núng lùi lại, không muốn trực diện đối đầu với hắn.
Khả năng chiến đấu của mỗi chiến sĩ của Tú lệ quân đều mạnh mẽ hơn người thường, bọn họ đứng đó, tựa như những cỗ máy chiến đấu vĩnh viễn không biết mệt mỏi. Cho dù ngực có bị đâm thủng, đùi có bị chém phải, một tay có bị chặt đứt thì bọn họ vẫn như không hề có chút cảm giác. Có chiến sĩ bụng bị rạch ngang, phần ruột đổ cả ra ngoài nhưng vẫn tiếp tục xông lên phía trước.
Binh sĩ Đại Hạ bị chấn động, đây quả thực không phải người, đúng vậy, đối thủ của bọn họ đã không còn là người, là một lũ điên, một đám ma quỷ thì đúng hơn.
Triệu Dương nghiến răng căm giận. Lại là thế này, tại sao vẫn như vậy? Dường như lần nào cũng vậy, hắn không hiểu, nữ nhân kia rốt cuộc có ma lực gì, nàng ta rốt cuộc có chỗ nào đáng cho những tướng sĩ kia liều mình đến vậy? Có được mãnh tướng cường binh như thế chính là mơ ước xa vời của bất kỳ quân nhân nào, loại mong muốn đó, tiền bạc không mua được, quyền thế không với tới, uy hiếp cũng hoài công. Nhưng nàng ta lại dễ dàng làm được.
Trống trận dồn dập, đạo quân này ngã xuống lại có đạo quân khác tiến vào chiến trường đẫm máu kia. Bình nguyên ngập thi thể, nền đất đã không còn thẩm thấu nổi khiến máu tươi chảy quanh co như suối nhỏ dưới đống xác người. Chúng tướng sĩ Đại Hạ lòng rối như tơ vò, cho dù phía trước có là tường đồng vách sắt thì lúc này cũng nên bị đục thủng rồi mới phải, tại sao cái phòng tuyến rõ ràng lung lay như sắp sụp đổ kia vẫn còn đứng đó, mặc cho bọn họ công kích hết lần này đến lần khác?
Ba đội kỵ binh trang bị giáp hạng nặng đã bị tiêu diệt hoàn toàn, năm đoàn bộ binh cũng bị đánh cho tan tác. Trước mặt phòng tuyến kia, thi thể người đã chất cao gần ba thước tựa như một bờ tường thấp bé, chiến trận kéo dài từ sáng sớm đến giữa trưa nhưng vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc, và phòng tuyến thoạt nhìn mỏng manh kia lại như càng lúc càng khó chọc thủng.
Triệu Dương biết, đó là vì binh sĩ bên hắn đã chùn chân e ngại, đối mặt với phương thức tác chiến điên cuồng như tự sát kia, ngay cả hắn cũng cảm thấy mạch máu ở thái dương đang đập thình thịch.
Trời đất âm u đến cùng cực, mặt trời một mực ẩn sau tầng mây đen, như cũng không nỡ tiếp tục chứng kiến cảnh tượng giết chóc tuyệt vọng bên dưới.
Triệu Dương thậm chí đang hoài nghi, có khi nào đây chính là quỷ kế của Bắc Yến? Đối phương muốn áp đảo tinh thần trước rồi mới đồng loạt tấn công nên mới cố ý dùng lực lượng tinh nhuệ như vậy? Nhưng nếu là thế, vì sao đến giờ vẫn không thấy đại quân phía sau cửa khẩu cử người chi viện?
Suy nghĩ đủ đường cũng không hiểu được, khi ý chí chiến đấu của binh sĩ đang dần giảm sút, Triệu Dương bắt đầu sinh ra sợ hãi. Cứ coi như là Đại Hạ nhất định thắng trận này đi, nhưng kết quả bọn họ sẽ được cái gì chứ? Chín ngàn thi thể của Tú lệ quân? Thắng một trận mà phải chật vật đến như vậy, ý muốn giết chết Sở Kiều nhằm tiêu diệt kẻ địch khó đối phó nhất của Bắc Yến của hắn lúc này đã không còn cuồng nhiệt như trước nữa.
Ngay trước khi mặt trời lặn, kèn lệnh báo hiệu rút quân của Đại Hạ rốt cuộc cũng vang lên, đám binh sĩ đồng loạt hoan hô một tiếng rồi hối hả thối lui, nhanh như thủy triều rút.
Và khi ấy, Tú lệ quân đã không ai còn sức truy kích. Cơ hồ là cùng một khắc quân Hạ rời khỏi chiến trường, các chiến sĩ Tú lê quân đồng loạt ngã xuống, tựa như bờ đê cuối cùng cũng sụp đổ sau khi chống đỡ cơn lũ to.
Triệu Dương nhanh chóng phát hiện tình hình, ngay lập tức quả quyết quay đầu ngựa lại, hạ lệnh nổi kèn hiệu xung phong rồi một mình một ngựa chạy ngược lại, vừa thúc ngựa vừa lớn tiếng hô: "Các tướng sĩ, mau theo ta!"
Binh sĩ Đại Hạ cuống cuồng quay đầu lại thì phát hiện phòng tuyến tường đồng vách sắt ngăn cản mình khi nãy đã biến mất. Chỉ cần có chút trí khôn thì ai cũng có thể hiểu rõ, Tú lệ quân đối đầu với kẻ địch đông hơn gấp hai mươi lần đã sớm thế suy sức yếu, vừa thấy đối phương rút lui liền lập tức ngã quỵ.
Đây quả thực là cơ hội ngàn năm một thuở!
Vì vậy, đại quân liền đồng loạt quay đầu ngựa, theo chân Triệu Dương xung phong.
"Toàn quân tập hợp!" Trong tiếng gió Bắc vù vù, một giọng nữ trong trẻo chậm rãi vang lên, âm thanh không nhỏ nhưng vẫn rõ ràng truyền vào trong tai mỗi người.
Sau đó, trước ánh mắt không thể tin của binh lính Đại Hạ, đội ngũ kia lại từng người một lảo đảo bò dậy. Ai cũng giáp trụ rách vỡ, sắc mặt trắng bệch, đứng cao thấp không đồng đều, chiến đao trong tay đã sứt mẻ, đội ngũ lê tấm thân đã sớm rã rời, chậm rãi tiến về vị trí của mình, vai kề vai, từ một người, hai, ba, mười, trăm rồi đến ngàn người...
Mơ hồ như một bức tranh được phục chế từng nét một, các chiến sĩ người đầy máu lại một nữa đứng lên, lảo đảo xếp thành tường chắn. Bức tường kia thoạt nhìn lung lay như một làn gió thổi cũng có thể đẩy ngã nó, nhưng khi tất cả đứng chung lại, sống lưng bọn họ liền bất chợt trở nên thẳng tắp, tựa như cổ thụ tạo nên cánh rừng, trở nên sừng sững như núi cao.
Hạ Tiêu đứng trước phòng tuyến, mạnh mẽ giơ cao chiến đao ra hiệu, hơn ngàn chiến sĩ đồng loạt hét to: "Chiến đấu vì tự do!"
Tiếng hét đó to rõ như sấm sét đánh xuống bình nguyên, chấn động vạnvật, át mọi tiếng hô xung phong cùng tiếng kèn hiệu của đối phương. Bước chân quân Hạ không tự chủ đều khựng lại, đáy lòng đột nhiên sinh ra cảm giác tuyệt vọng đáng sợ 'Có đánh cũng không thắng được.'
Không rõ là ai sinh ra ý nghĩ này trước tiên, nhưng thoáng cái nó đã lan truyền khắp toàn quân thông qua ánh mắt bọn họ nhìn nhau. Đứng trước kẻ địch toàn thân đầy máu, giáp trụ vỡ nát nhưng vẫn vô cùng kiên quyết kia, tướng sĩ Đại Hạ đều bất giác vừa sợ hãi vừa tôn kính.
Triệu Dương trầm mặc đứng yên tại chỗ, nhìn thiếu nữ toàn thân nhuộm máu, nhìn bóng dáng thẳng tắp tựa ngọn thương của nàng mà cảm thấy kính trọng tận đáy lòng. Triệu Dương nhảy xuống khỏi lưng ngựa, cởi mũ giáp xuống, cuối cùng, bóng dáng cao quý của hắn cúi thấp lưng chào một cái thật long trọng, ngay ở trước mặt mười vạn đại quân Hạ, trước mặt chín ngàn Tú lệ quân, trước mặt mấy vạn bá tính Bắc Yến ngàn vạn ánh mắt phía sau Long Ngâm Quan.
Binh sĩ Đại Hạ cũng theo chủ soái mình lặp lại động tác này. Đối mặt với những con người mình từng mắng là phản đồ này, bọn họ kính nể cúi chào rồi hầu như là cùng một lúc, lặp lại khẩu hiểu xung phong của đối phương: "Chiến đấu vì tự do!"
Quân Hạ rầm rập rời đi, để lại sau lưng chiến trường điêu tàn, gió thu lướt qua trên bình nguyên đầy máu, tất cả như một giấc mộng vô thực.
Tú lệ quân không ai động đậy, vẫn đứng nguyên tại chỗ như còn e ngại Đại Hạ lại đổi ý quay đầu một lần nữa.
Sở Kiếu kéo chiến đao nặng trịch, chậm rãi tiến lên phía trước, sắc mặt nàng trắng bệch như tuyết, màu xanh trên áo đã bị thay bởi màu máu, cũng không rõ là máu của nàng hay máu của người khác. Chúng binh sĩ cũng nhìn nàng, ánh mắt ngơ ngác như vẫn chưa tin quân Hạ đã rút lui.
Thiếu nữ đứng đó, gió thổi bay tóc mai tán loạn trên vầng trán mịn, phả lên luôn mặt xinh đẹp đã sớm lấm lem, nàng cất giọng khàn khàn, làm động tác giống như Triệu Dương, cúi mình thật thấp chào các tướng sĩ của mình, nói rõ ràng từng chữ một: "Các chiến sĩ, chúng ta thắng rồi."
Một tiếng nấc đột nhiên vang lên từ phía sau, sau đó liền ào ạt như đê vỡ, càng lúc càng lớn, đó là dân chúng được bọn họ che chở, hiện tại, đang rơi lệ đầy mặt chạy về phía này.
Dưới sự hướng dẫn của Hạ Tiêu, Tú lệ quân cũng đồng loạt khom lưng hành lễ với Sở Kiều, cất tiếng vang vọng: "Đại nhân cực khổ rồi."
"Mọi người cũng vậy." Trong không gian u ám bởi mặt trời bị che khuất, Sở Kiều đứng dậy, nước mặt lặng lẽ chảy xuống mặt.
................................................................................................
Quân Hạ đã không còn liều mạng tấn công nhưng cũng không nới vòng vây để bọn họ rời đi. Tú lệ quân bây giờ mới chính thức rơi vào tình huống hai đầu bị vây khốn. Triệu Dương hiện tại đã có thể khẳng định tin tức là chính xác, Sở Kiều quả thật đã trở mặt với Yến Tuân, bọn họ muốn rời khỏi Bắc Yến, mà cửa Long Ngâm Quan vẫn một mực đóng kín. Trừ khi chọn thủy lộ Nam Cương đi đến Biện Đường, bằng không bọn họ cũng chỉ có thể xuyên qua phòng tuyến Nhạn Môn Quan mà thôi, trong khi đó, Yến Tuân lại phong bế hoàn toàn thủy lộ Nam Cương.
Tin tức quả thật chính xác.
Ngày 20 tháng 9, trời bắt đầu giáng tuyết. Bão tuyết không lớn lắm nhưng lại rơi suốt hai ngày không ngừng. Lương thực dự trữ của Tú lệ quân đã cạn kiệt, nếu không nhờ dân chúng mang theo lương thực thì bọn họ đã sớm chịu đói. Lều trại đều được phân cho người già, phụ nữ và trẻ em, mỗi lều nhét đến hơn ba mươi người nhưng mỗi ngày vẫn có người già và trẻ em bị chết cóng trong đêm. Hành quân vội vã nên không mang theo thuốc trị thương, các chiến sĩ bị thương không có thuốc, thậm chí cũng không có được một chút nước ấm rửa vết thương. Sở Kiều chỉ có thể trơ mắt nhìn giá buốt cùng thương thế tước đi sinh mạng của thuộc hạ, những người mà ngay cả đại quân đồ sộ của địch cũng không thể quật ngã.
Mỗi khi thấy có người chết đi, thấy trẻ con khóc lóc vì đói vì lạnh, nàng chỉ hận không lập tức chạy đến trước Long Ngâm Quan, dập đầu xin lỗi Yến Tuân, cầu hắn cứu những con người vô tội này.
Trên môi bất giác nở một nụ cười bất đắc dĩ, Sở Kiều cảm thấy toàn thân rã rời không còn chút khí lực. Yến Tuân quả nhiên là người hiểu rõ nhược điểm của nàng nhất trên đời này, hắn biết, Sở Kiều nàng không sợ Đại Hạ, không sợ chiến tranh, không sợ giết chóc, không sợ chết, điều duy nhất nàng sợ, chính là để người nàng yêu mến bỏ mạng vô ích vì mình.
Hai ngày nay, nàng đã bốn lần dẫn binh tiến sâu vào Nhạn Minh Quan, nhưng đều không công mà phải lui. Bởi Triệu Dương một mực giữ vững phòng thủ, không nghênh chiến nhưng vẫn chú ý đến bọn họ, chỉ cần bọn họ tiến đến gần liền có mưa tên đón chào, kết quả lại có thêm mấy sinh mạng vô tội ngã xuống.
Tối ngày 22 tháng 9, trời nổi bão tuyết, nhiệt độ đột ngột giảm mạnh, từng cơn gió lạnh thấu xương không ngừng quét qua, chỉ gần nửa ngày đã có hơn năm mươi binh sĩ cùng tám mươi dân chúng bị chết cóng. Rốt cuộc đã có người không chịu nổi nữa, một người phụ nữ khoảng hơn bốn mươi tuổi đột nhiên rời khỏi doanh trại Tú lệ quân, ngay sau đó, càng lúc càng có nhiều người chạy theo, lũ lượt như một cơn hồng thủy, lảo đảo hướng về phía Long Ngâm Quan.
Sống chết trước mắt, nỗi sợ hãi với cái chết rốt cuộc đã chiến thắng lương tâm, bọn họ rốt cuộc rời bỏ các chiến sĩ vẫn liều mạng bảo vệ mình, chạy về phía bổn thổ.
Tú lệ quân im lặng đứng một bên, không ai lên tiếng cũng không ai ngăn cản, bọn họ chỉ trầm mặc nhìn người dân khóc lóc rời khỏi mình.
Một ông lão tóc hoa râm chạy đến trước mặt Sở Kiều, trong lòng ông có một đứa trẻ chỉ còn chút hơi tàn, xấu hổ ngước lên nhìn Sở Kiều, muốn nói gì đó nhưng chỉ có thể bật ra vài tiếng khóc nghẹn ngào.
Mặt đứa trẻ đã trắng bệch, Sở Kiều biết, nếu không được sưởi ấm, rất nhanh đứa bé sẽ không cầm cự nổi nữa.
Cổ họng như bị nghẹn lại, nàng không tức giận, không bi thương, cũng không hề hận bọn họ bội bạc.
Thân là quân nhân lại không thể bảo vệ người dân ủng hộ mình, chỉ có thể nhìn bọn họ chết oan uổng, nàng không còn lời nào để nói, cũng không đành lòng nhìn ánh mắt áy náy của ông lão kia. Bởi đối với họ, nàng còn áy náy nhiều hơn. Vì thế, nàng chỉ có thể lẳng lặng cúi đầu, dùng sự im lặng biểu đạt tâm tình của mình.
Thật xin lỗi.
Cửa Long Ngâm Quan vẫn kép kín, đèn trên đầu thành dần sáng lên, bên dưới cửa khẩu, vô số người già, trẻ con, phụ nữ tụ tập, lớn tiếng xin mở cửa,giọng cầu khẩn của bọn họ, xen lẫn nỗi tuyệt vòng cùng sợ hãi cùng cực. Nói cho cùng thì bọn họ rốt cuộc cũng chỉ là người dân bình thường, chẳng qua chỉ hy vọng có thể sống tốt hơn một chút mà thôi.
Tuyết rơi càng lúc càng nhiều, đổ trắng cả một vùng, đầu thành có tiếng quát lớn: "Không được đến gần! Mau lui lại! Lui lại!"
Nhưng không ai để ý đến binh sĩ nọ, tiếng quát của hắn đã bị tiếng gào khóc của dân chúng lấn át, người dân không ngừng đập lên cửa thành, vừa đập vừa khóc to: "Mở cửa! Mở cửa! Chúng ta là con dân Bắc Yến, vì sao lại không mở cửa cho chúng ta vào?"
Tiếng gào khóc xuyên thấu trời cao, binh lính trấn giữ Long Ngâm Quan không khỏi hóa đá. Chiến trận hai ngày trước bọn họ đều thấy rõ, nên bây giờ không một ai nguyện ý cầm vũ khí chĩa vào chiến hữu cũ của mình cả. Hiện tại, nhìn thấy dân chúng kêu gào, bọn họ lại càng thêm rối rắm, không biết phải làm thế nào mới đúng.
"Mở cửa ra!" Dân chúng điên cuồng đập cửa, người ngã xuống liền có người khác liều mạng xông lên, giẫm đạp lên nhau.
Tiếng kêu khóc thảm thiết vang dậy trên bình nguyên, trời đất trắng toát màu tuyết buốt giá, tiêu điều đến cực độ.
"Lùi lại! Bằng không bọn ta sẽ bắn tên!" Binh lính trên tường thành cao giọng răn đe.
"Chớ bắn! Chúng ta chính là dân Bắc Yến!"
"Cầu xin các người! Hãy cứu con ta!" Người phụ nữ chạy đầu tiên quỳ rạp trên đất, hai tay giơ cao đứa trẻ mới sinh còn trong tã lót, kêu khóc thảm thiết: "Không cần cứu ta! Nhưng xin các người hãy cứu con ta!"
"Mở cửa! Mau mở cửa cho chúng ta vào!"
...
"Sở đại nhân!" Binh lính trên đầu thành lớn tiếng hô: "Xin hãy quay lại! Người không quay lại chúng ta sẽ không thể mở cửa thành! Bệ hạ có lệnh, chỉ cần người chịu trở lại, mọi chuyện cũ đều sẽ được bỏ qua!"
"Sở đại nhân! Tất cả mọi chuyện sẽ được bỏ qua!" Hơn trăm binh sĩ giữ thành cùng nhau hô to, âm thanh vang vọng như sấm giáng xuống bình nguyên mênh mông.
Dân chúng như tìm được cứu tinh, có người đột nhiên quay người về phía Tú lệ quân, quỳ xuống khóc to: "Đại nhân! Xin hãy trở về!"
"Đại nhân! Xin cứu chúng ta, quay lại đi!"
"Đại nhân! Xin hãy trở về nhận lỗi với bệ hạ!"
"Đại nhân!" Người phụ nữ kia chạy trở về, trong lúc vội vã bị vấp liền ngã lăn ra trên mặt đất, đứa bé trong lòng bị đụng đau liền khóc váng lên, tiếng khóc của bé nghe vô cùng đau lòng (tại tự nhiên e thấy cái phrase này rất Tàu, k hợp cảnh), đau còn hơn cả mũi thương đao của quân Hạ, "Đại nhân, cầu xin người cứu con ta! Đại nhân, cầu xin người, xin người hãy cứu con ta với!"
Trời đất đen kịt, tuyết rơi lạnh đến cùng cực, Tú lệ quân lặng lẽ đứng yên, trầm mặc nhìn chủ soái của mình.
Tim Sở Kiều như bị xâu xé vỡ tan thành từng mảnh vụn, môi dưới bị nàng cắn chặt đến tóe máu, hai tay lạnh như băng, đầu ngón tay khẽ run run.
Yến Tuân, Yến Tuân, ngươi đã sớm biết sẽ như vậy, có đúng không?
Ngươi đã sớm dự liệu hết mọi chuyện có đúng không? Hiện giờ ngươi đang đứng ngoài thành Bắc Sóc, im lặng chờ ta trở về dập đầu nhận tội với ngươi, có đúng không?
Bên tai không ngừng vang lên tiếng khóc lóc thảm thiết, ngàn vạn dân chúng đang quỳ trước mặt nàng, liên tục dập đầu với nàng, lớn tiếng cầu xin nàng. Những người mà mới mấy ngày trước vẫn còn giơ cao nắm đấm thề tận hiến với nàng, quả quyết hô to khẩu hiệu 'Tự do vạn tuế', nhưng hiện tại, cũng chính là đang khẩn thiết cầu xin nàng quay về nhận tội với Yến Tuân.
Hiện thực tàn nhẫn, nhưng nàng lại không thể làm gì khác.
Hai mắt nàng khô khốc, không thể chảy thêm giọt nước mắt nào nữa, cảm giác khổ sở đang giày vò trong lòng. Số mệnh không ngừng đẩy nàng đến bờ vực tuyệt vọng, tựa như mỗi bước đi đều không tránh khỏi phải đụng đầu toạc máu.
"Đại nhân." Hạ Tiêu kiên định đi đến đứng sau lưng Sở Kiều, lo lắng nhìn nàng. Ánh mắt hắn nhìn nàng, mơ hồ ẩn chứa sự đau lòng cùng thương hại.
"Đại nhân..." Hạ Tiêu muốn nói lời an ủi nhưng lại không biết mở lời thế nào. Diễn biến hoang đường cùng nực cười đến như vậy, thế giới rộng lớn nhường này, nhưng bọn họ lại không biết nên đi hướng nào mới phải...
"Hạ Tiêu..." Sở Kiều cúi xuống thở dài, cảm giác như máu trong người đều đã đóng băng, nàng tuyệt vọng như muốn chết đi, nhưng vẫn kiên cường hạ lệnh: "Truyền lệnh cho toàn quân, chúng ta..."
Ngay lúc đó, phía sau đột nhiên truyền đến tiếng vó ngựa dồn dập, các chiến sĩ Tú lệ quân lập tức quay đầu lại, liền nhìn thấy chiến kỳ Đại Hạ đang phấp phới tiến dần về phía họ.
Triệu Dương đang dẫn quân quay lại tấn công bọn họ!
"Truyền lệnh cho toàn quân! Theo ta đón đầu kẻ địch!"
Lần đầu tiên trong đời, Sở Kiều lại cảm thấy quân Hạ đáng yêu như vậy. Nàng không rõ mình nghĩ vậy có đúng không, nhưng nàng chỉ muốn nhắm mắt bỏ qua không nhìn tới nữa, giống đà điểu có thể cắm đầu xuống đất trốn tránh mọi chuyện. Đại Hạ lại dẫn binh tấn công, không thể bận tâm chuyện khác nữa, nàng phải quay đầu nghênh đón địch! Và cùng lúc đó, từ tận đáy lòng, nàng cũng lặng lẽ cảm ơn ông trời đã không bắt nàng đưa ra quyết định khiến nàng đau khổ đến cùng cực kia, cho dù vì thế mà nàng sẽ phải trả giá rất đắt.
................................................................................................
"Điện hạ! Toàn quân đã sẵn sàng! Có thể tấn công bất cứ lúc nào!"
"Không cần!" Triệu Dương điềm tĩnh nói: "Chúng ta chẳng qua chỉ diễu binh một vòng mà thôi."
"Dạ?" Gã tướng dưới trướng ngẩn ra, hỏi lại: "Tại sao?"
Triệu Dương im lặng một lúc lâu, ánh mắt thâm trầm nhìn chăm chú vào màn đêm mịt mù, hồi sau mới thấp giọng nói: "Không thể để nàng trở lại Bắc Yến."
Cứ như vậy suốt cả đêm, Đại Hạ coi Long Ngâm Quan như sân diễu binh của mình, thỉnh thoảng lại đi ra chạy một vòng, chạy xong lại rút trở về. Mãi đến khi tia sáng đầu tiên xuất hiện xua tan màn đêm, bão tuyết ngừng thổi thì tiếng kèn rút quân mới rốt cuộc vang lên.
Sở Kiều mang các chiến sĩ mệt mỏi trở lại doanh địa, đón bọn họ là ánh mắt trầm mặc của vô số bá tính cùng từng dãy thi thể được xếp đặt ngay ngắn trước doanh trại. Những con người hôm qua hãy còn sống hiện tại nằm đó, như đàn cá rời khỏi nước, không chút sinh khí, tuyết lạnh phủ lên mặt họ, bao trùm vẻ mặt còn hằn vẻ tức giận cùng đau đớn cực hạn.
Thấy chiến trường đã trở nên bình lặng, dần dần có người chậm rãi rời khỏi doanh trại, dòng người đông dần, từ khe nước biến thành dòng suối, từ dòng suối biến thành sông, từ sông nhỏ biến thành biển cả mênh mông. Bọn họ không đi về phía Long Ngâm Quan mà hướng về phía Nhạn Môn Quan của Đại Hạ,
"Quay lại!" Bình An đứng cạnh Sở Kiều đột nhiên lớn tiếng kêu lên, cậu bước ra cố gắng kéo những người kia rồi lại bị họ đẩy ngã. Cậu nằm trên mặt đất nhưng vẫn cố nói to: "Trở về! Đừng đi!"
Không ai nghe lời Bình An nói.
Mọi người dần đi xa, lúc đến trước mặt quân đội của Triệu Dương thì đều giơ cao hai tay tỏ ý đầu hàng, nói rõ mình chỉ là dân thường. Trong đại đội có người bước ra bảo bọn họ quỳ, ngàn vạn dân chúng liền tức thì quỳ xuống, giơ cao hai tay, rối rít dập đầu.
Nghe được tiếng khóc đè nén cùng tiếng cười đắc ý của quân Hạ vọng lại từ xa, các chiến sĩ Tú lệ quân sững sờ đứng chết trân. Có người lặng lẽ rơi lệ, nhưng không ai nói lời nào. Bọn họ có thể nói gì chứ? Khích lệ những người dân tay không tấc sắt kia đi chém giết kẻ địch? Hay nói rằng bọn họ nhất định sẽ được cứu?
Bão tuyết lại nổi lên, tim Sở Kiều càng lúc càng cứng lạnh như băng giá dưới đáy hồ sâu, ánh mắt nàng trở nên mơ hồ, trước mắt chỉ có chiến kỳ bay múa, hỏa vân đỏ chập chờn.
Trong không khí tiêu điều, mùa đông năm 778 cuối cùng cũng đến.
Chương 158: Thanh Hải vương
Ngày 25 tháng 9, gió giật mãnh liệt, tuyết rơi kín trời.
Trong ngoài cung điện đã bị tuyết phủ lấp, đèn lồng đã sớm được treo lên, cung nhân thị nữ mặc áo bông dày thả màn che tuyết xuống, màn lụa trắng bị gió thổi bay bay, nhẹ nhàng quét lên lớp bụi trên mặt đất.
Trong điện không hề thắp đèn, chỉ có một vài ngọn đèn cầy đang lặng lẽ cháy, phát ra ánh sáng nhờ nhờ.
Trên linh đường rộng lớn, một bóng dáng cao gầy đang lẳng lặng ngồi trong bóng tối, ánh nến lúc mờ lúc tỏ hắt lên người khiến nét mặt hắn nhìn không rõ, chỉ thấy trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh ngổn ngang vò rượu.
Hắn chưa bao giờ thích uống rượu, nhưng hôm nay, hắn đã ngồi trong này suốt ba ngày liền, uống rượu không ngừng.
Ba ngày, đại điện Càn Lăng đã ngập trong mùi rượu, vò rượu chất đống thành núi nhỏ, nhưng vì sao hắn vẫn chưa say?
Cuồng phong bên ngoài vẫn cuồn cuộn, bão tuyết bay tán loạn, trong điện lờ mờ ánh nến khiến không gian càng thêm u tĩnh, nam nhân lẳng lặng ngồi một mình, nhưng bên tai vẫn như phảng phất nghe được tiếng trống trận *tùng tùng* nơi biên quan, nghe được tiếng đao sắc chém vào gió lạnh của các chiến sĩ cùng tiếng gào thê lương của dân chúng hướng về cố hương, cảm nhận được máu tươi đang đổ ra, bao phủ tường thành vĩ ngạn của Long Ngâm Quan, bao phủ vạt cỏ xanh từng dùng để nuôi gia súc của bình nguyên lộng gió, và chôn vùi chút tình cảm cuối cùng giữa bọn họ.
Đúng vậy, hắn chưa từng say, hắn vẫn vô cùng tỉnh táo, rõ ràng cảm nhận được sự trầm luân cùng vây hãm của bản thân.
Trong thoáng chốc, hắn đột nhiên nhớ lại một đêm hè rất nhiều năm trước, trong một gian phòng chật hẹp muỗi vo ve của cung Thịnh Kim, không khí trong phòng oi bức đến không chịu nổi. Lúc đó, A Sở thường trở về rất trễ, bởi vì đám ma ma phòng bếp vốn thích sai nàng làm đủ mọi chuyện, nên ngày nào hắn cũng khoác áo ra đứng ở trước cửa Oanh Ca viện chờ nàng về. Đêm mùa hè trăng vừa tròn vừa sáng, đỉnh đầu có muỗi bay vo ve nhưng hắn lại cảm thấy lòng vô cùng thanh thản. Chờ chán thì hắn sẽ ngồi xuống bậc cửa, lấy ra một thanh gỗ mài lên phiến đá trên đất.
A Sở đã lớn, tóc mọc rất dài rồi nên hắn muốn làm cho nàng một cây trâm.
Lúc A Sở về tới thì trời đã rất khuya, hôm đó nàng không càu nhàu vì sao hắn còn chưa ngủ như mọi ngày mà lại thần thần bí bí từ sau lưng lấy ra một cái chén nhỏ trong suốt thả vào trong tay hắn. Chén nhỏ được đẽo bằng băng, vành chén khắc hoa văn lưu ly tinh xảo, ở giữa là đá bào cùng hoa quả cắt nhỏ đủ loại. Đá được bào rất nhuyễn, trắng toát lành lạnh như tuyết mùa đông ở Bắc Yến vậy.
Lúc đó, hắn cầm chén băng trong tay, mơ hồ nhớ lại năm đó khi cha mẹ còn sống, mùa hè mẹ sẽ luôn tự mình đẽo băng làm đá bào cho bọn họ. Hắn cực kỳ thích nên luôn giữ chặt chén băng, cả Nhị tỷ cũng không giành được, nhưng càng giữ chặt thì chén băng càng nhanh tan, cuối cùng chỉ còn lại một vũng nước mà thôi.
Hắn ngẩng đầu lên, xuyên qua chén băng nhìn cô bé đứng đối diện mình. Năm đó A Sở mới chỉ mười tuổi, vóc người còn rất thấp bé, nàng cũng đang cười tít mắt với hắn, trên người nàng mặc y phục vải thô màu lam, trên trán đeo dây chuỗi thả một đóa hoa nhỏ màu đỏ xuống trên mi tâm dành cho cung nữ Đại Hạ, khuôn mặt nhỏ xíu, hai má hồng hồng. Do cầm chén băng một lúc lâu nên tay nàng đã đỏ bừng, nhưng hai mắt sáng long lanh như sao, đến trăng tròn trên cao cũng không bì kịp. Hình ảnh đó đã lấn át mọi ưu thương, xua tan tất cả mây đen trong lòng hắn.
Lúc ấy, Yến Tuân đã thề nhất định phải mau trưởng thành, nhất định phải đối xử tốt với người trước mặt cả đời, vĩnh viễn không để người khác ức hiếp nàng. Hắn muốn cho nàng cuộc sống nhung lụa như công chúa, khi đó tất cả mọi tâm nguyện và suy nghĩ trong đầu đều là dành cho nàng.
Thời gian thấm thoắt trôi qua, năm tháng như cánh tay vô tình che phủ ký ức cùng lời thề năm xưa. Có đôi khi, hắn cảm thấy, cuộc đời hắn thật giống như cái chén bằng băng cuối cùng cũng sẽ tan thành nước kia, gia đình, cha mẹ, huynh trưởng cùng tỷ muội, ân sư, chiến hữu, người yêu cuối cùng đều sẽ rời xa hắn, như chén băng tan thành nước, nước tan ra sẽ nhanh chóng thẩm thấu xuống nền đất rồi biến mất, có níu kéo đến mấy cũng không lưu giữ được.
Yến Tuân ngẩng đầu lên, trước mặt là linh đường chôn quần áo và di vật của cha mẹ cùng thân nhân. Linh đường nguy nga rộng lớn nhưng chỉ cất giữ ít xiêm y cùng đồ vật thường dùng, đầu của bọn họ đến nay vẫn còn bị giữ trong miếu tội thần ở Đại Hạ, còn thân thể thì đã sớm vào bụng sói hoang từ lâu.
Nam nhân cầm ly rượu lên uống ực, chất rượu cay trôi xuống họng, nóng bỏng như than cháy. Gió nhẹ chợt luồn vào trong đại điện khiến màn lụa lay động, nhìn thoáng qua trông như ống tay áo của vũ cơ đang nhảy múa, yểu điệu như làn nước. Ánh mắt hắn vẫn rất thanh tỉnh, ngũ quan tuấn tú nhưng hơi thất sắc, đáy mắt như có mây mù che phủ. Nhìn kỹ thì bên tóc mai như có lẫn vài sợi bạc, trong ánh nến, sườn mặt nam nhân càng thêm vẻ tang thương.
Chỉ mới hai năm mà hắn đã mệt mỏi đến như vậy.
Cuộc đời hắn quả thật như một mê cung, mỗi bước đi đều phải đối mặt với vô số ngã rẽ, dần dần người bên cạnh hắn đều ít đi. Cả người làm bạn tận lúc bắt đầu cũng đã chọn con đường riêng.
"Phụ thân." Nam nhân bật thốt ra hai chữ, tựa như một hòn đá nhỏ vừa phá tan mặt hồ tĩnh lặng, "Phụ thân, người gạt ta."
Yến Tuân ngẩng lên nhìn bức họa trên linh đường, hình họa phụ thân rất sống động. Hắn nhìn người cha mình sùng bái thuở nhỏ, lẳng lặng nói: "Người nói Bắc Yến là nơi yên bình, giàu có và phồn vinh nhất thiên hạ, người nói tất cả những điều người làm đều là để con cháu đời sau nở mày nở mặt, nhưng người sai rồi, cải cách của người đã phá hủy Bắc Yến, không những phá hủy bản thân mà còn phá hủy cả dòng họ Yến thị. Tám năm ở hoàng thành, ta đắm chìm trong ảo tưởng và sự tín nhiệm đó để sống sót, nhưng sau khi thập tử nhất sinh tìm được đường trở về Bắc Yến, người có biết ta đã thất vọng đến mức nào không?"
Trong điện tĩnh lặng như tờ, Yến Tuân lẳng lặng nhìn hình phụ thân, trầm giọng tiếp lời: "Bốn bề đều là vách đá, khắp nơi đều là sương tuyết giá lạnh. Phụ thân, người muốn an phận trong góc nhỏ của bản thân, coi đó là đào nguyên thế ngoại, có biết mình ngây thơ đến mức nào không? Cho nên hoàng đế mới không tha cho người, thiên hạ không tha cho người, ngay cả thuộc hạ cũng phản bội người, đơn giản vì phụ thân không có thực lực, không có thực lực thì làm sao có thể hoàn thành chuyện mà cả đế vương cũng không làm được kia?"
"Phụ thân, ta giết Ô tiên sinh và Vũ cô nương, chỉ vì bọn họ một mực làm theo di chí của người, trở thành chướng ngại vật trên đường đi của ta. Ta đã từng cho bọn họ cơ hội, nhưng đáng tiếc, bọn họ lại không chịu quý trọng. Ta giết Hoàn Hoàn, chỉ vì Đại Đồng muốn ủng hộ nàng lên làm quân chủ thay thế ta, chỉ cần nàng còn sống, Đại Đồng sẽ không từ bỏ hy vọng. Ta giết các lão thuộc hạ cũ kia của người, chỉ vì bọn họ mắt nhìn thiển cận mà vẫn khăng khăng nắm giữ trọng quyền. Ta giết rất nhiều người nhưng cũng càng lúc càng tiến gần đến giấc mộng của mình hơn."
Yến Tuân ngửa đầu uống cạn ly rượu, sau đó rót thêm một chén tưới lên mặt đất, chậm rãi nói từng chữ một: "Phụ thân, ta nhất định sẽ không giống người."
Yến Tuân vươn mình đứng dậy, xoay người rời đi, vạt áo quét qua tầng bụi mỏng trên đại điện, bước chân vừa kiên định vừa mạnh mẽ. Ánh nến chiếu lên bóng lưng để lại một cái bóng thật dài trên mặt đất. Sau lưng hắn chính là linh vị các bậc trung trinh của Bắc Yến, có phụ mẫu, có huynh trưởng cùng liệt tổ liệt tông Yến thị, còn có các trung thần tướng lĩnh của Bắc Yến, có Ô tiên sinh, Vũ cô nương, Tiểu Hòa, Hoàn Hoàn, Thương Biên, Duệ Hi, A Đồ, thậm chí cả các tướng sĩ liều mình để bảo vệ Bắc Sóc như Ô Đan Du và Phong Thịnh...
Nhiều ánh mắt như vậy đang lẳng lặng nhìn theo bóng lưng dần rời đi của hắn, trả lại sự tĩnh mịch cho nơi yên nghỉ của người đã khuất.
Bước chân của hắn vô cùng vững vàng, không hề có chút do dự hay hối hận.
Gió rét bên ngoài phả lên mặt, ánh mắt đen nhánh của Yến Tuân càng thêm thâm thúy, hắn đang nhớ lại buổi chiều rời khỏi thành Chân Hoàng, A Sở không chút từ nan trở về cứu Tây Nam trấn phủ sứ đang bị vây khốn trong đế đô. Có lẽ là từ lúc đó, hắn đã mơ hồ đoán được kết cục của ngày hôm nay. Hai người có lý tưởng và tín ngưỡng khác biệt, không cách nào dung hòa. Vì vậy, càng đi càng xa, cuối cùng sẽ không tránh khỏi bước lên hai con đường khác nhau.
Mơ ước muốn thành, phải trả giá rất nhiều.
Mà cái giá hắn phải trả, chính là việc không bao giờ còn là người trong trí nhớ của nàng nữa...
Cảm giác vô lực rã rời đều bị hắn lặng lẽ đè nén toàn bộ...
A Sở, khoảnh khắc muội rời đi, ta cũng biết cả đời này muội nhất định sẽ không thể đi cùng ta. Muội đã định sẽ đi trong ánh sáng, nhưng ta thì suốt kiếp cũng thoát không khỏi núi thây biển máu này. Ta không cách nào bay cao cùng muội nên mới muốn bẻ gãy cánh của muội, hòng giữ muội lại bên mình. Nhưng ta rốt cuộc vẫn thất bại...
"A Sở..." Tiếng nói trầm thấp nhẹ quanh quẩn trong đại điện trống trải, tựa như tia sáng xuyên qua gió Bắc lạnh lùng. Nam nhân đứng trước cửa đại điện, ánh trăng chiếu lên sườn mặt tô rõ thần sắc tái nhợt một cách dị thường.
Yến Tuân chậm rãi nhắm mắt lại, sắc mặt vẫn bình tĩnh nhưng mi tâm bất giác nhẹ chau, mặt như có sương mù dần bao phủ, "A Sở... muội còn trở lại không..."
Ánh trăng lạnh như sương, mây mù nhẹ lơ lửng trên tầng không, Hồi Sơn cao ngất không một bóng chim, nam nhân đứng trên đỉnh núi, quét mắt nhìn khắp lãnh thổ Bắc Yến, lẳng lặng tự trả lời: Có lẽ nàng sẽ không trở về nữa.
"Bệ hạ!" A Tinh đẩy thị vệ ra, lảo đảo chạy đến quỳ xuống trên mặt đất, kích động nói: "Bệ hạ, xin hãy cứu cô nương! Bão tuyết đã phong kín lối vào Long Ngâm Quan, mặt khác thì bị Đại Hạ vây khốn nhiều ngày, cô nương sắp không cầm cự nổi nữa rồi!"
Yến Tuân chỉ ngước mắt nhìn lên dãy núi đồ sộ trước mặt, lâm vào trầm tư.
"Bệ hạ, cô nương đi theo ngài nhiều năm như vậy, vào sinh ra tử, một lòng một dạ, chiến công của cô nương, ai cũng nhìn thấy. Bệ hạ, ngài thật sự nhẫn tâm giết cô nương sao? Ngài đã quên lời mình từng nói sao?"
Hai mắt đã đỏ ửng, A Tinh không ngừng dập đầu xuống đất, trầm giọng nói: "Bệ hạ, cầu xin ngài, xin hãy mở lòng, cầu xin ngài..."
"A Tinh." Tựa như lúc này mới phát hiện ra sự hiện hữu của A Tinh, Yến Tuân đột nhiên nhíu mày, mở miệng hỏi: "Ta phải làm gì để cứu nàng?"
A Tinh nghe hỏi liền mừng rỡ, vội vàng đáp: "Xin hãy mở cửa Long Ngâm Quan, phái binh ra khỏi thành trợ giúp cô nương..."
A Tinh còn chưa nói hết thì Yến Tuân đã khẽ cau mày, "Ngươi cảm thấy, ta mở Long Ngâm Quan ra, nàng sẽ trở về sao?"
A Tinh nhất thời sửng sốt, im lặng suy nghĩ hồi lâu mới lẩm bẩm: "Vậy, vậy xin hãy rút mọi canh phòng ở thủy lộ Nam Cương thông với Biện Đường, để cô nương xuôi Nam mà đi."
"Xuôi Nam?" Ngữ khí của Yến Tuân vô cùng bình tĩnh, nghe không hề có chút dao động, hắn nhẹ nhàng hỏi ngược lại: "Đi rồi nàng sẽ không bao giờ trở về nữa, có đúng không?"
A Tinh trợn mắt há hốc mồm, nói không ra lời nữa.
Yến Tuân khẽ nhếch môi, nhẹ giọng nói: "Nói vậy, có phải ta sẽ vĩnh viễn mất đi nàng?"
Ban đêm lạnh lẽo, A Tinh chợt cảm thấy toàn thân như bị khí lạnh ngấm vào, suy nghĩ hồi lâu, hắn đột nhiên đứng bật dậy, xoay người chạy đi, vừa chạy vừa nói to: "Thuộc hạ đi khuyên cô nương trở về!"
Yến Tuân không ngăn cản A Tinh, mà thậm chí cũng không nhìn theo, hắn chỉ lẳng lặng đứng đó. Trời chợt xuất hiện mây đen che khuất vầng trăng, lại sắp có tuyết rơi...
A Sở sắp không cầm cự được nữa rồi? Nha đầu ngốc đó, vì sao vẫn chưa quay lại? Hắn cau mày nghĩ.
Hiện tại, hắn như một đứa trẻ đơn thuần đang tự lừa mình dối người, tìm mọi cách gạt bỏ nhân tố chính trị, cho rằng bọn họ đang thỉnh thoảng giận dỗi gây gổ như thuở bé mà thôi. Hắn tức giận lầm bầm: Tại sao còn chưa trở lại? Bên ngoài lạnh như vậy...
Nếu có thể quay lại quá khứ, A Sở, muội có chọn ở cùng ta nữa không? Khi đó, muội có ngờ mình sẽ lâm vào cục diện như bây giờ không? Nỗi hận của muội đối với ta bây giờ, sâu đến đâu vậy?
"Bệ hạ." Sau lưng vang lên một giọng nam trầm thấp, Trình Viễn quỳ xuống, vẫn bộ dạng cung kính muôn thuở, lên tiếng: "Xin hãy hạ lệnh mở cửa thủy lộ, để Sở đại nhân rời đi."
Yến Tuân thoáng sững sờ, quay đầu lại nhìn Trình Viễn, "Sao vậy? Sao cả ngươi cũng đến cầu xin cho nàng?"
"Không phải vì Sở đại nhân." Trình Viễn bình tĩnh nói: "Thuộc hạ là vì bệ hạ."
Dứt lời hắn lại dập đầu xuống đất, kiên định nói: "Bệ hạ, xin hãy cho bản thân một con đường sống."
Tim Yến Tuân chợt như bị ai đâm thủng, đau đến cực độ.
"Nếu Sở đại nhân chết trong tay bệ hạ, cả đời này bệ hạ sẽ không cười nổi. Bệ hạ cũng từng nói, trong lòng ai cũng ấp ủ mơ ước, nhưng muốn hoàn thành tâm nguyện thì trước tiên phải còn sống, sống mới còn hy vọng. Bằng không, chết rồi thì có bao nhiêu tâm nguyện cũng đều phải bỏ dở."
Yến Tuân im lặng hồi lâu, bóng dáng cao lớn của hắn đứng trên đỉnh núi, gió lạnh thổi tung vạt áo lông tựa như chiến ưng đang giương cánh chuẩn bị bay.
"Trình Viễn, tại sao lại nói những lời này với ta, ngươi chẳng phải chưa từng có giao hảo với A Sở sao?"
"Thuộc hạ và Sở Đại nhân chưa từng có qua lại, lúc trước thuộc hạ thậm chí còn đắc tội với Sở đại nhân nữa. Chẳng qua khi đó chỉ là vì bị buộc đến đường cùng, để tự vệ nên muốn đẩy nàng vào chỗ chết. Hiện tại Sở đại nhân đã không còn sức uy hiếp thuộc hạ nên thuộc hạ cũng không muốn thấy nàng chết."
"Và quan trọng nhất là..." Trình Viễn ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Yến Tuân, trầm giọng nói: "Thuộc hạ không hy vọng chuyện này trở thành gông xiềng trong tim bệ hạ. Thế gian này, chỉ bệ hạ mới có thể giúp thuộc hạ đạt thành tâm nguyện, cũng chỉ bệ hạ mới có thể khiến thuộc hạ chân chính thần phục. Lòng trung của thuộc hạ đối với bệ hạ tuyệt không thay đổi, cho dù bệ hạ phạm lỗi tày trời, bị cả thế gian vứt bỏ thì thuộc hạ cũng nguyện đi theo bệ hạ cho đến thân thể thành tro. Bệ hạ muốn giết sạch người trong thiên hạ, thuộc hạ sẽ là người đầu tiên vung đao, bệ hạ muốn dùng thi thể lấp đầy biển Đông, thuộc hạ sẽ là người đầu tiên chém đầu mình ném xuống. Thuộc hạ nửa đời luồn cúi, làm kẻ vô sỉ bất nghĩa chỉ vì vẫn chưa tìm được người chân chính đáng giá để đi theo. Nhưng hôm nay thuộc hạ đã tìm được, bệ hạ chính là hy vọng, là tín ngưỡng của thuộc hạ, vì vậy, thuộc hạ không hy vọng bệ hạ sống cả quãng đời còn lại trong hối hận."
"Bệ hạ, xin hãy để nàng đi."
Dòng ký ức đột nhiên sôi trào, trong nháy mắt, Yến Tuân chợt nhớ lại tất cả những gì đã trải qua suốt mười năm qua. Cuối cùng dòng ký ức đó đều hội tụ thành một hình ảnh ở ngay trước mắt, đứa bé gái bò dậy từ trong vũng máu, dùng ánh mắt tràn đầy thù hận nhìn bản thể thiếu niên của hắn.
Tim khẽ nhói đau, hắn mỉm cười, nhẹ đưa tay lên như muốn vuốt ve khuôn mặt, vuốt ve tóc mai rối bời của hình ảnh cô bé trong ký ức.
Hắn sẽ vĩnh viễn nhớ kỹ ánh mắt bất khuất kia.
Hắn cuối cùng cũng phải...
Nam nhân chậm rãi nhắm hai mắt lại, từ từ chặt bỏ từng đoạn ký ức, chặt đứt mọi tình yêu cùng tâm niệm của bản thân mà cảm thấy tim chảy máu đầm đìa.
"Truyền lệnh bảo Khâu tướng quân mở thủy lộ Nam Cương, thả bọn họ đi..."
"Bệ hạ!" Một tiếng thét chói tai đột nhiên truyền đến, lính truyền tin lảo đảo bò lên bậc thềm, vừa chạy vừa kêu to: "Biên cương cấp báo! Biên cương cấp báo!"
Yến Tuân cùng Trình Viễn đồng thời quay đầu lại, nhìn thấy gã lính truyền tin hoảng hốt quỳ xuống, dâng thư lên báo cáo: "Phó tướng Tề Thiếu Khiêm canh giữ thủy lộ Nam Cương gửi thư cấp báo: Ngày 16 tháng 9, thủy lộ Nam Cương thình lình bị tập kích, đồng thời, cảnh nội Bắc Yến cũng xuất hiện kẻ địch không rõ lai lịch ngăn cản mọi đường truyền tin tức, liên tiếp đánh chiếm mười ba châu quận của ta. Chủ soái thủy lộ Nam Cương là Khâu tướng quân đã tử trận, toàn bộ tướng lĩnh từ cấp thiếu tướng trở lên cũng đều chết trận, thương vong lên đến hơn ba vạn người. Hoàng hôn hôm qua, thủy lộ bị công phá, chúng ta giao chiến với kẻ địch bị yếu thế, thuộc hạ khó khăn lắm mới lấy được con chiến mã cuối cùng đột phá vòng vây chạy về báo tin cho bệ hạ. Khâu tướng quân có cố trấn giữ cương vị, tuy chiến đấu đến chết nhưng cũng không thể bảo toàn quân uy Bắc Yến ta. Năm vạn binh sĩ đóng quân ở thủy lộ Nam Cương đều đã thất thủ."
"Đã xảy ra chuyện gì? Ngày 17 tháng 9 thủy lộ bị tập kích, tại sao chúng ta không hề có chút tin tức nào?" Trình Viễn đứng bật dậy, tức giận hỏi.
Viên lính truyền tin sợ hãi trả lời: "Tất cả quan binh đều bị vây hãm trong cảnh nội, kẻ địch thế công hung hãn, liên tiếp công phá mấy châu quận liền kề, chúng thần căn bản không kịp thời đưa tin."
"Vậy quan viên cùng dân chúng ở các quận huyện phụ cận mé Tây Nam cũng không một ai phát giác sao? Sao lại để chiến báo bị trì hoãn đến độ này?"
Lính truyền tin cẩn thận ngước mắt lên lén nhìn Yến Tuân một cái, thật lâu sau mới nhỏ giọng đáp: "Đa phần mé Tây Nam đều thuộc cao nguyên Thượng Thận, chưa kể mười phần đã hết chín phần bỏ nhà đi theo Sở đại nhân, cho dù có người ở lại, bọn họ nghe nói có kẻ địch từ bên ngoài muốn tới cứu Sở đại nhân, ít ra họ cũng không giúp che giấu, nhưng căn bản không một ai thèm báo lên trên. Thậm chí tất cả quan viên địa phương còn bị dân chúng trói gô lại hết."
"Cái gì?" Trình Viễn giận dữ quát to: "Bọn chúng muốn làm gì chứ? Muốn tạo phản à? Quân đội thì sao? Binh lính đâu? Đều chết hết cả rồi sao? Thấy chỉ huy của mình bị ngu dân bắt trói mà chẳng thèm quan tâm?"
"Chuyện... chuyện này.... Thuộc hạ nghe nói, quân địa phương lén phụ trợ quân địch tấn công thủy lộ, còn cung cấp tin tình báo cặn kẽ. Bằng không thủy lộ Nam Cương sẽ không thất thủ dễ dàng như vậy."
"Có lý nào lại như vậy?"
"Hiện tại thế nào rồi?" Một giọng nói trầm thấp đột nhiên vang lên, Trình Viễn vội vàng quay đầu lại, nhìn thấy Yến Tuân không chút dao động chậm rãi hỏi: "Thủy lộ bị công phá, hiện tại tình hình ra sao?"
Lính truyền tin đầu đầy mồ hôi, quỳ xuống run rẩy nói: "Thuộc hạ nhận được tin tức, thủy quân Biện Đường không rõ vì sao hay tin từ trước, đã sớm chầu chực bên ngoài, cửa khẩu vừa mở liền bỏ thuyền tràn lên bờ, hiện tại đã áp sát Long Ngâm Quan rồi."
"Là ai lĩnh binh?"
"Dạ, là đại hoàng của Biện Đường."
"Tất cả bao nhiêu nhân mã?"
"Không dưới hai mươi vạn."
Khoảng cách gần khiến Yến Tuân nghe được tiếng hít vào sợ hãi của Trình Viễn bên cạnh. Nam nhân chậm rãi nheo hai mắt, khôi phục lại vẻ uy nghi của bậc đế vương, tựa như người vừa đứng trên đỉnh núi nhìn ra bầu trời xa xăm không phải là hắn.
"Lý Sách tự mình lĩnh binh đến?"
"Lập tức chỉnh đốn binh mã, binh đoàn số 1 và binh đoàn số 2, toàn bộ theo ta đến Long Ngâm Quan!"
Ba canh giờ sau, đại quân Bắc Yến nhanh chóng tụ tập dưới chân Hồi Sơn. Hồi Sơn là dãy núi bọc quanh cao nguyên Thượng Thận, cách thủy lộ Nam Cương không quá nửa ngày đi ngựa, cách Long Ngâm Quan cũng không quá xa. Yến Tuân cưỡi trên lưng ngựa, vạt áo lông đen tuyền bị gió thổi bay phần phật. Trình Viễn theo ở bên cạnh, nhỏ giọng hỏi: "Bệ hạ, kẻ địch tấn công cửa khẩu ngày 16 tháng 9 là người của Biện Đường sao?"
"Không phải." Yến Tuân lắc đầu, ánh mắt chợt trở nên thâm trầm, "Từ Biện Đường đến Bắc Yến xa xôi cách trở, cho dù Lý Sách nhận được tin ngay ngày ta và A Sở xảy ra xung đột ở cao nguyên Thượng Thận cũng không thể chạy đến cửa khẩu chỉ trong vòng mười sáu ngày. Nói như vậy, là nhóm người khác được tin, trước âm thầm báo tin cho Biện Đường, sau mới dẫn quân tấn công thủy lộ, mở đường cho quân đội Biện Đường."
Trình Viễn cau mày, "Vậy thì là ai mới được? Đại Hạ? Không thể nào."
"Là ai à?" Ánh mắt chợt trở nên lạnh như băng, Yến Tuân chậm rãi hỏi: "Còn ai có thể dễ dàng xuất hiện trong cảnh nội Bắc Yến ta như vậy?"
Trình Viễn cả kinh, thất thanh kêu lên: "Thanh Hải vương?"
"Thanh Hải vương." Yến Tuân rít ba chữ này qua kẽ răng, cuối cùng thản nhiên nói: "Cuối cùng cũng có cơ hội gặp mặt."
Sao mai trên trời khẽ lóe, trời dần hừng sáng.
"Bệ hạ!" Xa xa truyền đến tiếng cấp báo, một gã lính truyền tin gấp gáp thúc ngựa chạy lại, lớn tiếng hô to: "Mười dặm phía trước phát hiện quân địch không rõ lai lịch."
"Bao nhiêu người?"
"Kẻ địch kéo dài từ bờ Nam sang bờ Bắc, phong tỏa đường đi của quân ta, dài đến mười dặm, mười ba sư đoàn bộ binh, tám sư đoàn kỵ binh, mười bảy đội giáp binh, chưa kể cung tiễn cùng phòng thủ không rõ, khoảng mười lăm vạn trở lên."
Trong khoảnh khắc, tất cả mọi người đều không nhịn được mà thét lên kinh hãi. Nhân số khổng lồ như vậy lại im lặng không tiếng động xuất hiện trong cảnh nội Bắc Yến. Nếu hôm nay không vô tình phát hiện, cục diện sẽ trở nên đáng sợ đến cỡ nào?
Không như những người khác, Yến Tuân không hề lo lắng, hắn biết, đối phương xuất hiện ở đây chính là để ngáng đường quân hắn, tranh thủ thời gian cho Lý Sách rút về Biện Đường. Hắn như mơ hồ đoán được thân phận của đối phương, tuy trong lòng có không cam tâm và kinh ngạc, nhưng nhiều hơn hết chính là cảm giác sảng khoái.
Cũng tốt, hắn đã sớm biết sẽ có ngày này, là kẻ địch thì thống khoái đánh một trận cho rõ ràng vậy. Người của hắn, hắn có thể tha, nhưng tuyệt đối không để cho người khác cứu!
Sương sớm chậm rãi bao trùm cả vùng đất, đội quân giáp đen uy vũ chậm rãi hành quân. Yến Tuân khoác áo choàng đen, im lặng thúc ngựa đi lên phía trước. Nhìn thấy đối phương cũng xuất hiện một bóng dáng tuấn tú cao ráo bước ra khỏi hàng ngũ.
Mặc dù xa như vậy nhưng Yến Tuân vẫn lập tức nhận ra thân phận của đối phương. Tầm mắt hai người giao nhau trong khoảnh khắc, Yến Tuân cười nhạt, khẽ nhướng mày, trầm giọng nói: "Đã lâu không gặp!"
Chương 159: Biển người lớp lớp
Sở Kiều bị đánh thức bởi tiếng vó ngựa ồn ào tựa sấm, nhanh như vũ bão.
Ba ngày không có gì bỏ bụng ngoại trừ nước tuyết cộng thêm cái lạnh cắt da cắt thịt, Sở Kiều hiện tại đã như nỏ mất đà. Nàng cầm lấy đao lao ra khỏi doanh trướng, bên ngoài sáng rực ánh đuốc, trước mặt là vó ngựa cuồn cuộn như xới tung cả một vùng, tiếng huyên náo vang bên tai không ngừng.
Nàng nghe được có người gọi to tên mình, quay đầu lại thì thấy Hạ Tiêu hai mắt đỏ ngầu, môi đang mấp máy nói gì đó. Thân thể Hạ Tiêu đầy máu, không rõ là máu của hắn hay của người đang đuổi giết hắn.
Sở Kiều cảm thấy đầu kêu *ong ong* không ngừng, không rõ bản thân đang nghĩ gì, muốn cố nghe xem Hạ Tiêu nói gì nhưng làm thế nào cũng nghe không hiểu...
Đây đã là lần thứ tư Triệu Dương tập kích doanh trại. Đại Hạ dường như cũng đã không còn kiên nhẫn, bên tai đều là tiếng chém giết, hộ vệ bên cạnh nàng lần lượt ngã xuống. Càng ngày càng có nhiều kẻ xông về phía này, ào ạt tựa thủy triều. Một hộ vệ lao đến chắn trước người Sở Kiều, tên nhọn xuyên qua đầu người đó rồi dừng lại trước mũi nàng, máu tươi nhỏ xuống từng giọt.
"Bảo vệ đại nhân!" Có ai đó cao giọng hô to, nhưng binh lính ở xa đã không đến kịp, khắp nơi đều là xác binh lính, máu nhuộm đỏ mặt đất.
Gió lạnh thấu xương, tuyết rơi trắng trời, Sở Kiều tự nhủ, đã không còn đường lui thì cứ như vậy đi. Nàng nhẹ gật đầu, khàn giọng lẩm bẩm: "Cứ vậy đi, cứ như vậy..."
Mưa tên chi chít bay ngập trời, xé gió kêu *vùn vụt*. Sở Kiều ngẩng đầu lên nhìn màn tên chết chóc bay đến gần, nhất thời có hơi hoảng hốt.
Nàng có lẽ sắp chết rồi.
Trong khoảnh khắc, thời gian như ngừng lại, ký ức cuồn cuộn quay về, nàng nhớ lại cuộc đời mình, được tổ chức chọn ra từ cô nhi viện, trải qua mười năm khổ luyện, thi vào học viện quân sự rồi gia nhập sở tình báo, liên tục ám sát, nằm vùng, cuối cùng hy sinh vì nước, sau đó đi đến thời loạn thế này, lại một lần nữa trải qua khoảng thời gian mười năm giành giật sự sống.
Sở Kiều đột nhiên cảm thấy vô cùng mệt mỏi, mệt mỏi đến độ chỉ muốn buông xuôi bỏ mặc tất cả. Những năm gần đây, cho dù đối mặt với tuyệt cảnh thế nào, nàng chưa từng thôi hy vọng cầu sinh, nhưng hiện tại nàng lại bỗng nhiên không muốn tiếp tục chém giết nữa. Trong đầu không ngừng quanh quẩn suy nghĩ, nàng mệt quá rồi, cứ vậy đi, cứ thế này nghỉ ngơi cũng tốt...
"Đại nhân!" Hạ Tiêu trừng muốn nứt mắt khi thấy Sở Kiều đứng yên tại chỗ, ngẩng đầu nhìn mưa tên lao về phía mình mà không hề tránh né, thân thể sững ra như một trụ băng.
Hạ Tiêu cảm thấy tim như bị xé nát, hắn điên cuồng vung đao, kẻ địch hai bên không ngừng ngã xuống, máu tươi bắn đầy người hắn. Nhưng đối phương liên tục xông lên như thủy triều, ngăn cản bước chân hắn, hắn trốn không thoát, bứt không ra, chỉ có thể trơ mắt nhìn mưa tên lao vun vút về phía nàng.
Tất cả quân lính Bắc Yến trên cổng Long Ngâm Quan cũng trợn tròn mắt nhìn hình ảnh này. Một binh sĩ trẻ tuổi tái xanh mặt, nhũn chân khuỵu xuống trên mặt đất, nhìn thiếu nữ mặt tái nhợt, bi thương khóc to: "Sở đại nhân!"
Hắn cũng là binh sĩ xuất thân từ cao nguyên Thượng Thận, cũng có cha mẹ tỷ muội được Sở Kiều cứu ra khỏi trại nô lệ. Nhưng hắn lại là một kẻ nhát gan, trong khi Tú lệ quân chiến đấu bên ngoài, hắn không dám lên tiếng. Thời điểm Đại Hạ liên tục tập kích doanh trại, hắn không dám lên tiếng. Bão tuyết càn quét doanh trại, hắn không dám lên tiếng. Lúc dân chúng gào khóc ở dưới thành, hắn cũng không dám lên tiếng. Nhưng giờ phút này, lời mẫu thân lại quanh quẩn trong đầu, "Ăn quả nhớ người trồng cây, Sở đại nhân chính là ân nhân của chúng ta."
Trên cổng Long Ngâm Quan vang dậy tiếng kêu gào rung động cả bình nguyên, khiến tuyết bay càng thêm hỗn độn.
Nửa tháng này, toàn Bắc Yến đã được chứng kiến một quân đội trung dũng không ai bì kịp. Còn hiện tại, cả trời đất cùng chứng kiến giọt nước mắt chua cay của một cô gái.
Mưa tên bay lên cao, cuối cùng vẽ một vòng cung trên không trung rồi lao thẳng xuống dưới, khí lực cùng tốc độ được đẩy lên cao nhất.
Tất cả mở to mắt, vạt áo của Sở Kiều bị gió tốc lên, nàng hơi nheo mắt, tóc mai bay tán loạn trên trán, đầu óc vốn trống rỗng lại chợt xuất hiện một đôi mắt đang chăm chú nhìn nàng, người đó đang mở miệng nói với nàng: phải sống, phải sống...
Sở Kiều mỉm cười, nụ cười nhợt nhạt tựa sương.
Ta rốt cuộc đã không kiên trì nổi nữa rồi, ta tới tìm ngươi có được không?
Thế rồi, âm thanh xé gió đột nhiên vang lên, phía tây Long Ngâm Quan chợt xuất hiện vô số bóng đen đu dây nhảy xuống, trên trăm thanh loan đao lập tức bay ra, lao thẳng về phía mưa tên đang rơi xuống từ trên cao.
Thoáng chốc toàn trường liền trở nên náo loạn, những bóng đen nhanh chóng đạp tuyết xông ra, lộ rõ là một nhóm người mặc y phục xanh sẫm, thân thủ vừa nhanh vừa mạnh, bước chân nhảy vọt như mãnh thú, dưới ánh đuốc, trên mặt có hình xăm đỏ sậm, ánh mắt sáng quắc như sói, dũng mãnh tấn công quân Hạ đang còn ngơ ngẩn.
Quân Hạ còn chưa kịp phản ứng thì hướng tây nam lại truyền đến tiếng động long trời, mặt tuyết bị vó ngựa hất tung, thiên quân vạn mã xông đến trong tiếng trống trận dồn dập. Kỵ binh tinh nhuệ ào đến, khoái đao vung ra bốn phía, chiêu thức sắc bén, đằng đằng sát khí, binh sĩ cùng khoái mã đều trang bị ngân giáp cùng lưỡi đao đen như mực, rõ ràng là quân sĩ Biện Đường.
Một bóng giáp bạc xông thẳng vào trận địa, vị đế vương trẻ tuổi đột nhiên ôm lấy Sở Kiều lên ngựa chạy ra khỏi trung tâm chiến trận, vòng tay siết chặt tựa như muốn bóp nát nàng. Mặt giáp của hắn lạnh lẽ như băng, hơi thở nặng nề phả ra khí trắng. Tiếng chém giết bên tai xa dần, hàng vạn hàng nghìn ánh đuốc sáng ngời chạy theo hai người, ấm áp như mặt trời ban trưa.
Cuồng phong dịu dần, bên tai liên tục vang lên tiếng trầm thấp của Lý Sách, giọng điệu của hắn điềm tĩnh nhưng vẫn ẩn chứa chút lo sợ mơ hồ. Nam nhân nhẹ nhàng lặp đi lặp lại: "Không sao rồi, không có chuyện gì nữa rồi..."
Sở Kiều không hề muốn khóc, đáy lòng vẫn còn chìm trong hoảng hốt, nhưng trước mặt như cảnh mộng khiến nàng bất giác rơi lệ, những giọt nước mắt lăn dài trên mặt giáp trước ngực Lý Sách. Nàng nhắm mắt lại, trong đầu như có hình ảnh trăm ngọn núi lửa bùng nổ, tro bụi và nham thạch hừng hực không ngừng thiêu rụi mọi thứ, cuốn vạn vật chìm xuống vực sâu không đáy.
Nàng có rất nhiều lời muốn nói, nhưng khi mở miệng chỉ có thể phát ra tiếng nức nở vô nghĩa.
Lý Sách, ngươi biết không? Ô tiên sinh chết rồi, Vũ cô nương chết rồi, rất nhiều người đã chết. Yến Tuân đã giết rất nhiều người, ngươi nói xem, hắn có giết luôn cả ta không?
Lý Sách, Gia Cát Nguyệt cũng đã chết, là ta hại chết hắn, ngươi có biết không, là ta hại chết hắn.
Lý Sách, ngươi nói rất đúng, Bắc Yến thật sự rất lạnh, lạnh đến mức con người cũng bị chết tâm, lời thề cũng bị đóng thành băng.
Bốn phía đột nhiên biến thành trắng xóa, Sở Kiều chậm rãi tựa vào ngực Lý Sách, mệt mỏi lịm đi. Lý Sách cúi đầu nhìn người trong lòng, nhìn khuôn mặt gầy gò tái nhợt của nàng mà thấy lòng như phát điên. Nghĩ lại lúc vừa đuổi tới, nhìn thấy mưa tên ngập trời bắn về phía nàng, hắn đã sợ đến cuồng dại, nếu hắn đến chậm một bước, chỉ một bước thôi...
Gió lạnh tạt lên người cả hai, Lý Sách cởi áo lông xuống bọc Sở Kiều vào trong ngực. Nàng thật gầy, cuộn trong lòng hắn, nhỏ bé như một đứa trẻ vậy.
Lý Sách ngẩng đầu lên nhìn bão tuyết bay đầy trời, nhìn đại quân Hạ đằng đằng sát khí trước mặt, nhìn Long Ngâm Quan sừng sững ở đối diện, không kìm được nỗi tức giận đang dâng lên trong lòng.
Yến Tuân, ngươi nhẫn tâm đến vậy sao?
Ngươi nhẫn tâm đến nước này?
"Thánh thượng, Đại Hạ cử người đến chất vấn vì sao Đại Đường chúng ta lại nhúng tay vào nội chính của Đại Hạ, thuộc hạ nên trả lời thế nào ạ?" Thị vệ xuống ngựa chạy đến hỏi.
Lý Sách ôm chặt Sở Kiều, lạnh lùng đáp lời: "Nói với Triệu Dương, Lý Sách ta muốn mang người đi, muốn gì thì mời đến Đường Kinh tìm, ta sẽ đợi."
"Thánh thượng, đã dẫn người đến." Thiết Do tiến lên, theo sau hắn là một nam tử trung niên có hình xăm đỏ thẫm, chính là thủ lĩnh đám người ra tay cứu Sở Kiều khỏi mưa tên khi nãy.
Sắc mặt chợt trở nên hòa hoãn hơn, Lý Sách gật đầu nói: "Đã phiền các ngươi rồi."
Nam nhân có hình xăm trên mặt cúi đầu đáp lời: "Chúng ta ít người, nếu không có bệ hạ thì Sở đại nhân đã gặp nguy rồi."
"Cũng nhờ các ngươi kịp thời ra tay cứu giúp, món nợ lần tay trẫm sẽ ghi nhớ, ngày khác nếu có cơ hội nhất định sẽ hồi đáp."
"Không dám, tại hạ cũng chỉ phụng mệnh làm việc."
Lý Sách khẽ nhướng mày, thử dò hỏi: "Chủ nhân ngươi là...?"
"Chủ nhân chúng ta đã ngăn chân đại quân Bắc Yến, cũng đã sắp xếp tiếp ứng ở cửa khẩu, mời bệ hạ mau lên đường, chúng ta sẽ ở phía sau cản đường kẻ địch cho ngài."
Lý Sách chậm rãi gật đầu, ánh mắt thoáng trở nên thâm trầm, thấp giọng nói: "Đại ân không cách nào đền đáp, các ngươi hãy bảo trọng." Dứt lời liền mang đại quân Biện Đường cùng binh sĩ còn sống sót của Tú lệ quân cấp tốc rời đi.
Binh lính canh giữ Long Ngâm Quan hiện giờ có không đến sáu vạn, bọn họ chỉ có thể trơ mắt nhìn Lý Sách dẫn hai mươi vạn đại quân đường hoàng xông đến rồi đường hoàng rời đi, nhất thời không biết có nên ra khỏi thành truy kích hay không. Tướng chỉ huy quân thủ thành do dự một lúc lâu, cuối cùng cắn răng nói: "Mau lên, mau đi xin chỉ thị của bệ hạ."
Chúng binh lính nghe lệnh thì thở ra một hơi, may quá, chờ xin chỉ thị trở về thì đám sát tinh kia đã biến đi từ đời nào rồi.
Không đến nửa canh giờ sau, đại quân của Lý Sách cũng đến được cửa khẩu, một đội ngũ chừng hai ngàn người đang lẳng lặng chờ sẵn. Người của Lý Sách đi qua trao đổi mấy câu, đội ngũ kia để lại một chiếc xe ngựa rồi lập tức rời đi.
Thiết Do trở lại bẩm báo: "Bọn họ nói, đã chuẩn bị sẵn ngựa và lương thực đủ cho chúng ta đi tiếp hai mươi dặm đường nữa, còn nói Bắc Yến lạnh lẽo, xe ngựa là để bệ hạ ngồi cho ấm."
Vén rèm xe lên thì thấy khoang xe rộng rãi, trải đệm gấm êm mịn, sàn xe bằng sắt, phía dưới có đặt hai chậu than nên bên trong ấm áp như trời xuân. Một góc xe còn có một bếp lò nhỏ, cái âu trên lò đang bốc khói, mở ra thì thấy là cháo gà nhân sâm còn nóng hổi.
"Bệ hạ, Thanh Hải vương này rốt cuộc là thần thánh phương nào vậy? Lần này hắn ra quân ồ ạt như vậy, thật sự chỉ muốn cho Biện Đường chúng ta một nhân tình thôi sao?"
Lý Sách lẳng lặng nhìn âu cháo gà kia, hồi lâu cũng không nói gì. Sở Kiều được đặt nằm trên nệm, khuôn mặt nhỏ tái xanh đến đáng thương, tựa như cảm giác được khí ấm, nàng nhẹ thở ra một hơi rồi cuộn mình lại như một chú thỏ con, dần chìm vào giấc ngủ say.
"Thiết Do, nếu là ngươi, người nào sẽ vì ngươi làm tất cả những chuyện này?"
Thiết Do thoáng ngây ra, nghĩ nửa ngày mới chậm rãi nói: "E chỉ có mẹ thần mà thôi, ngay cả vợ thần cũng chưa chắc sẽ làm được."
Lý Sách nhẹ cong khóe môi mỉm một nụ cười rồi nói: "Đúng vậy, người có thể làm như vậy vốn không nhiều."
"Bệ hạ biết là ai sao?"
"Ừ." Lý Sách gật đầu, quay lại nhìn dãy núi hùng vĩ chìm trong tuyết trắng ở xa xa, nói giọng lấp lửng: "Nếu lúc trước chỉ hơi nghi ngờ thì bây giờ đã có thể khẳng định."
Vận mệnh khó lường, mỗi người đều có số kiếp riêng của mình. Nếu số đã định, hắn cần gì phải vạch trần chung cuộc?
Lý Sách nhẹ mỉm cười, dáng vẻ hào sảng thoáng ẩn chứa chút tang thương.
Gia Cát Nguyệt, ta quả thật không bì kịp ngươi.
.................................................................................................
Trước lúc bình minh thì bão tuyết rốt cuộc cũng dừng lại, nhưng mặt trời vẫn chưa ló dạng nên bốn bề vẫn còn chìm trong âm u. Trên đỉnh núi cao ngất, nam nhân khoác trường bào xanh thẫm, giơ cánh tay để tuyết quyên đáp xuống. Loại chim có tiếng hung dữ nhất Thanh Hải này lại ngoan ngoãn đậu lên tay nam nhân, tuyết quyên toàn thân trắng toát, chỉ riêng ba chiếc lông dài ở đuôi là có màu đỏ tươi xinh đẹp như máu.
Mở thư ra, một dòng chữ khó coi như cũ đập vào mắt: Đường hoàng đã mang binh theo thủy lộ trở về, vô sự, chớ nhớ nhung.
Sắc mặt nam nhân vẫn hết sức bình tĩnh, ánh mắt vẫn trong trẻo nhất quán như cũ. Hắn dĩ nhiên nghe được ý chế giễu của thuộc hạ đối với mình. Ai vô sự chứ? Ai chớ nhớ nhung chứ?
Nam nhân nhấc bút hồi đáp: Không cần quay về, chết ở đó đi.
Viên tướng trẻ tuổi nhận lấy thư liền vui vẻ cười đến lộ hai hàm răng trắng noãn, hắn phất tay nói với đám thuộc hạ đang kêu khổ thấu trời: "Rút, rút lui thôi, chúng ta về nhà nào."
"Thất tướng quân, nhớ vợ sao?" Một hán tử khoảng hơn bốn mươi cười to, vai hắn trúng tên cũng chỉ vừa được băng bó xong, hiện tại lại cười ha ha như không có chuyện gì, hình xăm con rắn trên bắp tay khẽ động đậy khi hắn cười.
"Cút! Lão côn đồ, rủa lão cả đời cũng không biết mùi vị tương tư là gì."
"Mẹ nó chứ, đám Bắc Yến khốn kiếp kia đúng là dữ thật!" Một gã tướng khoảng hơn ba mươi đi tới, trời cực lạnh nhưng hắn lại mặc áo hở nửa phần vai, trước ngực còn lộ băng vải trắng, hiển nhiên cũng vừa bị thương, "Ông đây có tranh đoạt vợ với bọn chúng đâu, mụ nội bọn chúng, vậy mà lại cứ liều mạng lao vào ông."
Người được gọi là Thất tướng quân cười nói: "Ngươi không có đoạt vợ với bọn bọn họ, nhưng chủ tử thì có. Đi thôi, chúng ta cũng không phải tới đây chỉ để đánh trận. Nhớ dặn Khiết Lang sắp xếp ổn thỏa đường lui, mỗi người đều biết vị trí của mình rồi đấy, chuẩn bị rút lui thôi."
Người bị Thất tướng quân mắng là lão côn đồ hậm hực đứng dậy, vừa đi về vị trí của mình vừa lầm bầm: "Ta đây cảm thấy chủ tử đánh trận này thật không thỏa đáng, chưa kịp nhìn vợ một cái đã để người khác đoạt đi, có phải chúng ta đánh không lại bọn chúng đâu, thật tình, đi chuyến này bị lỗ rồi."
Đám người dần rời đi, Thất tướng quân đứng yên tại chỗ, nghe người nọ nói thì thoáng sửng sốt, im lặng suy nghĩ một chút mới nhẹ giọng nói: "Thiếu gia chỉ không muốn đánh cược tính mạng của người nọ thôi."
Đúng vậy, trong tình hình đó, càng kéo dài thời gian thì càng không có lợi cho người nọ. Cho dù đánh thắng mà người nọ không an toàn thì có ý nghĩa gì?
Thất tướng quân nhớ đến người vừa nhìn thấy trên chiến trường, đôi mắt trẻ tuổi thoáng nheo lại, lộ ra chút hận ý. Món nợ này, sớm muộn gì cũng phải được thanh toán.
................................................................................................
Lúc Lý Sách mang Sở Kiều lên thuyền thì đã là buối sáng của ba ngày sau, mặt trời vừa mới mọc, đường chân trời tỏa sáng rực rỡ. Bầu trời trong xanh không một gợn mây, thủy lộ Nam Cương nằm ở phía tây nam đại lục, khí hậu vô cùng ôn hòa, nước sông êm đềm, xanh ngắt một màu.
Thuyền lớn xuất phát trước tiên, pháo hiệu rền vang chân trời, hơn ngàn chiến thuyền nhổ neo rời bến, khiến mặt sông cuồn cuộn sóng. Trải tầm mắt là vô số cánh buồm trắng tinh treo giữa nền trời màu thiên thanh.
"Xuất phát ~" Thiết Do cao giọng hô to, giọng điệu kéo dài mang theo sự phấn khởi được về nhà.
Lý Sách đứng ở đuôi thuyền, một thân hoa phục rộng rãi màu xanh biếc, ngũ quan tuấn tú tà mị, phong thái hào sảng bất kham. Hắn hơi ngước lên nhìn rặng núi cao ở xa xa, như thoáng thấy được một bóng dáng cao ngất trên đỉnh núi.
Thời tiết thay đổi, mặt sông như có gió thổi từ đỉnh núi xuống, mang theo hương tuyết trong trẻo cùng mùi cỏ xanh thơm ngát.
Lý Sách đột nhiên nở một nụ cười giảo hoạt như hồ ly, để lộ hàm răng sáng bóng. Sau đó, trước ánh mắt kinh hãi của toàn thể thuộc hạ, hắn hướng về phía đỉnh núi phất một chiếc hôn gió vô cùng nồng nhiệt.
Đám thuộc hạ đều lộ vẻ mặt 囧, Thiết Do sầu não hỏi: "Bệ hạ nhìn thấy thôn nữ lên núi đốn củi hay sao vậy?"
Lý Sách quay lại, vui vẻ nói to: "Í! Làm sao ngươi biết?"
Mọi người bất đắc dĩ thở dài: Bệ hạ, ai lại không biết chứ?
Mặt sông êm đềm, thuyền căng buồm đón gió lướt băng băng. Mặt trời vừa lên, tỏa ánh sáng ấm áp ra bốn phía.
Trên đỉnh núi, nam tử lẳng lặng đứng đó, nhìn thấy rõ ràng động tác khiêu khích của Lý Sách thì khẽ nhíu mày, nhưng vẫn không quay đầu rời đi.
Thuyền dần đi xa nhưng hắn vẫn đứng yên một chỗ, gió trên đỉnh núi thật yên bình, không bi thương cũng không u sầu. Gió núi thanh tĩnh thổi qua người hắn, khiến vạt áo cùng cái bóng trên mặt đất khẽ lay động, không khí hòa lẫn mùi cây cỏ cùng núi rừng và hương tuyết trong trẻo, vô cùng dễ chịu.
Trong thoáng chốc, nam tử chợt nhớ đến ánh mắt của nàng, ký ức lại dâng trào như cỏ dại mọc lan tràn sau mưa, thần sắc hắn trở nên ôn hòa, thoáng chút ngơ ngẩn mất hồn.
Cho đến giờ, hắn vẫn không cần nàng biết đến sự hiện hữu của mình. Nếu có thể, hắn nguyện ý nằm xuống trải đường, thầm lặng đưa nàng đến chốn yên bình.
Đó là ngày 29 tháng 9 năm 778, ngay mùa hoa cúc nở rộ ở kinh đô Biện Đường, toàn thành như rợp trong màu vàng rực.
Đoàn thuyền xuôi Nam, chậm rãi lướt về phía kinh đô xa hoa.
Chương 160: Chỉ nguyện khanh bình yên
Thu qua đông tới, chẳng qua ở đất nước ấm áp như Biện Đường, khí hậu mùa thu và mùa đông cũng không khác biệt lắm. Chỉ có hoa cúc đã úa tàn trên đầu cành, mỗi lần có gió thổi qua là cánh hoa lại rụng lả tả, theo gió xoáy cuộn tròn trên mặt đất.
Sở Kiều lại đang nằm mơ, trong mộng nàng thấy mình đang cưỡi ngựa chạy trên hoang nguyên, mặt trời trên đầu tỏa sáng rực rỡ, gió mạnh từ chân trời lướt qua khiến đồng cỏ vàng nhấp nhô như mặt biển gợn sóng. Trong ánh nắng cuối ngày, thiếu niên vui vẻ thúc ngựa chạy băng băng, trên mặt vẫn mang nụ cười sáng chói, chính là dáng vẻ trong trí nhớ ban đầu của nàng. Mặt đất tràn ngập hỏa vân hoa, ánh lên màu đỏ yêu diễm, vó ngựa hất bông tuyết bay ngập trời, bên tai vẫn thấp thoáng tiếng cười phóng khoáng của thiếu niên, hắn đang gọi nàng: A Sở, mau đuổi theo ta nào!
Nàng liền chạy theo hắn, ánh mặt trời nóng rực hắt lên người nàng, gió thổi vù vù bên tai, trước mắt tràn ngập ánh sáng hy vọng, hệt như trong ảo tưởng suốt tám năm ở trong thành Chân Hoàng nàng luôn tâm tâm niệm niệm.
Nhưng ngay khoảnh khắc nàng sắp nắm lấy tay thiếu niên, trời đất bỗng nhiên tối sầm, bão tuyết chợt bao phủ mọi ánh sáng hy vọng. Người thiếu niên phóng khoáng chợt trưởng thành, dùng vẻ mặt lạnh lùng đứng trước mặt nàng, phía sau là vô số binh sĩ Bắc Yến khoác giáp đen tuyền. Nam nhân cùng các chiến sĩ của mình bước qua người nàng mà đi, nàng hoảng hốt quay đầu lại, chỉ thấy phía sau chính là chiến trường nhuộm máu, mặt băng nứt toác, nước lạnh tràn ra bốn phía. Nàng nhảy xuống hồ sâu, rốt cuộc lại nhìn thấy đôi mắt cô tịch kia, khóe môi lạnh như băng của hắn nhẹ nhàng hôn lên môi nàng, lướt qua tóc mai nàng. Tay hắn rất lớn, rất mạnh mẽ, từ từ kéo tay nàng ra, đẩy hy vọng sống sót vào tay nàng.
Mặt trời lại trở nên chói mắt, lòng bàn tay nàng như có lửa, đau như có ai khắc chữ lên đó.
Trước mắt chợt tràn ngập máu tươi, sông núi lần lượt sụp đổ, bình nguyên trong trí nhớ xuất hiện vết nứt toạc, nước biển phun ra bốn phía. Nàng một thân một mình đứng nhìn liệt hỏa thiêu trụi cánh đồng cỏ vàng, nhìn bão tuyết cùng nước biển vùi lấp bình nguyên, chôn vùi cả người nàng.
Nàng mệt mỏi quá rồi, không còn sức lực nữa. Cuối cùng nàng nhắm mắt lại, buông tay mặc cho bản thân chìm xuống bùn sâu không đáy.
................................................................................................
Lúc Sở Kiều tỉnh lại thì mưa phùn vừa mới tạnh, mặt trăng ló ra khỏi tầng mây, vẩy ánh sáng dìu dịu lên khắp tẩm điện của Mật Hà cư, ý thu nhuốm vàng tán ngô đồng, nước mưa nhỏ từng giọt tí tách xuống trên mặt đất.
Đại điện trống trải không một bóng người, giống như toàn bộ người trên thế gian đều đã chết, chỉ còn một mình nàng mà thôi.
Sở Kiều chậm rãi ngồi dậy, thân thể chơi vơi như đang trên mặt biển, cả người ướt đẫm mồ hôi. Gió thổi tới, vừa lạnh vừa khô, nhưng lại khiến nàng cảm nhận được, mình vẫn còn sống.
Từ phía điện Nhu Phúc truyền đến tiếng đàn sáo tưng bừng, là dạ yến do phi tần của Lý Sách tổ chức. Ở đây mỗi tối đều có ca múa long trọng vô cùng huyên náo.
Sau khi cứu Sở Kiều trở về, toàn bộ triều đình Biện Đường liền ùn ùn dâng tấu vạch tội, văn võ bá quan cả ngày khóc lóc can gián, nhưng Lý Sách vẫn một mực thi trừng mắt với bọn họ suốt gần mười ngày, cuối cùng trong một buổi lâm triều, hắn một cước đạp đổ long ỷ, tức giận quát cái gì không muốn làm hoàng đế nữa, ai thích thì làm đi.
Bá quan bị dọa sợ, lập tức quỳ suốt hai ngày ngoài Trường Tín cung vời vị hoàng đế vừa lên ngôi không tới mấy năm này trở lại thượng vị. Từ đó trở đi, không còn ai dám đề cập hay xỏ xiên nửa chữ đến chuyện của Sở Kiều nữa.
Cũng may biểu hiện sau đó của Lý Sách cũng khiến mọi người thở phào. Trừ mấy lần đầu ngự y chẩn bệnh cho nàng thì hắn còn phá lệ dụng tâm thăm hỏi, về sau hắn lại khôi phục bộ dáng phong lưu trêu hoa ghẹo nguyệt, lại cứ hai ngày một tiệc nhỏ, ba ngày một đại yến. Thấy vậy, chúng ngôn quan cuối cùng cũng thả lỏng, thầm nhủ, xem ra hồ ly tinh đến từ Bắc Yến này cũng không có bao nhiêu sức quyến rũ, hoàng đế đi cứu nàng, chắc cũng chỉ là nhất thời tâm huyết dâng trào mà thôi.
................................................................................................
Biết Lý Sách tiến vào nhưng Sở Kiều vẫn không lên tiếng. Hắn thì cho rằng nàng vẫn còn ngủ, cố ý làm ra vẻ rón rén như ăn trộm, khiến cho đám tiểu nha đầu ngoài cửa phải che miệng cười trộm, không dám cười thành tiếng.
Lúc vén rèm lên, liếc nhìn thấy Sở Kiều ngồi trên giường thì Lý Sách có hơi sững sờ, nhưng ngay sau đó liền cười tít mắt xán tới, đưa ra một cái rổ mây tinh xảo, bộ dáng như đang hiến vật quý, cười nói: "Có người dâng quả lựu, muốn ăn không?"
Sở Kiều không nói gì, ánh mắt vẫn còn hoảng hốt như chưa tỉnh mộng.
Lý Sách ngồi bên cạnh, nhìn khuôn mặt vẫn còn tái xanh của nàng, mi tâm thoáng nhíu lại rồi nhanh chóng thả lỏng. Hắn lấy một quả lựu ra, đích thân lột vỏ bóc ra từng hạt lựu đỏ thẫm như trân châu, tươi cười quay sang Sở Kiều, đưa hạt lựu đến bên khóe miệng nàng, há môi bảo: "Kiều Kiều, há ra nào, giống ta nè, a~"
"Lý Sách, ta đã khỏe." Giọng nàng rất nhẹ, rất bình tĩnh.
Mỗi lần nhìn Sở Kiều, Lý Sách thỉnh thoảng sẽ có ảo giác như ba năm trước, nàng thọ thương được đưa vào cung Kim Ngô chạy chữa, không có gì thay đổi. Nhưng rất nhanh hắn liền phát hiện, nàng thật ra không giống trước, không còn là thiếu nữ tràn đầy lý tưởng cùng hoài bão lúc xưa nữa, không còn là thiếu nữ mắt luôn lấp lánh hy vọng như nhắc đến tên nam nhân nào đó, ngay cả ánh mắt nàng, cũng không còn lấp lánh như xưa, hiện tại nó ảm đạm như bị phủ bởi một tầng sương dày.
"Ừ, đã khỏe rồi."
"Ta muốn rời đi."
Lý Sách dường như không hề kinh ngạc khi nghe nàng nói những lời này, ngược lại còn vui vẻ cười hỏi: "Vậy nàng muốn đi đâu đây?"
Sở Kiều mờ mịt lắc đầu, thành thật nói: "Ta vẫn chưa biết, nhưng thế gian lớn như vậy, nhất định sẽ có chỗ cho ta đi. Nếu cuối cùng vẫn không được thì ta sẽ đến quan ngoại ở."
"Nàng đến quan ngoại hay ở lại đây, có gì khác nhau sao?"
"Lý Sách, Đại Hạ sẽ không bỏ qua cho ta, ngươi giữ ta lại sớm muộn gì cũng gặp đại họa. Ta giết vô số lính Hạ, hai lần khiến bọn họ chinh Bắc không công mà phải lui, còn chính tay giết chết Tam hoàng tử Triệu Tề của bọn họ. Trước mắt Đại Hạ và Biện Đường không có chiến sự, nhưng đến khi bọn họ ra tay thì ngươi sẽ gặp phiền toái không nhỏ."
Lý Sách không trả lời mà chỉ lẳng lặng nhìn Sở Kiều, vẻ cợt nhả trong mắt dần thối lui nhường chỗ cho sự tĩnh lặng như nước. Hồi lâu sau hắn mới thấp giọng nói: "Nàng ghi thù với Gia Cát Nguyệt vì đám trẻ Kinh gia, vì báo đáp ân tình cho Yến Tuân mà theo hắn vào cung Thịnh Kim chật vật cầu sinh suốt tám năm. Nàng mấy lần vào sinh ra tử để bảo vệ dân chúng Bắc Yến, bất hòa với Yến Tuân vì Tây Nam trấn phủ sứ, vì Gia Cát Nguyệt ở ẩn hai năm, cuối cùng vì Đại Đồng Hành mà đoạn tuyệt với Yến Tuân. Bây giờ, nàng còn muốn đến tái ngoại chỉ vì không muốn liên lụy ta sao?"
Chất giọng trong trẻo trở nên trầm khàn, ẩn chứa sự mệt mỏi khó nén, hắn lặng lẽ hỏi: "Kiều Kiều, cả đời này của nàng, có bao giờ thử nghĩ cho mình không?"
Sở Kiều chợt ngây ra, gió đêm luồn vào thổi lên tóc mai cùng vạt áo của nàng. Lý Sách nhẹ đưa tay áp đầu Sở Kiều vào ngực mình, cái ôm cực kỳ dịu dàng, không hề vương chút dục vọng. Hắn thở dài một hơi rồi thấp giọng nói: "Kiều Kiều, trên đời có rất nhiều cách sống. Từ cả đời nghèo khổ đến vinh hoa thịnh vượng, nhàn nhã vô dục vô cầu hay xa hoa lãng phí đều là những cách sống khác nhau. Nhưng vì sao nàng luôn chọn cho bản thân con đường gian nan nhất thế? Nàng nhìn dáng vẻ của mình đi, một người dân tầm thường nhất góc phố cũng không mệt mỏi như nàng, cũng có cuộc sống tốt hơn nàng."
Bên tai quanh quẩn giọng nói chậm rãi của Lý Sách, Sở Kiều tựa vào trong lòng hắn, mọi suy nghĩ đều như đình trệ. Thật vậy chăng? Nhưng một thường dân nơi góc phố sẽ không có nghiệt duyên nặng như thế, sẽ không có ràng buộc nhiều như vậy. Vì vậy nên dù có bị phản bội hay phụ lòng, bị lừa gạt hay bỏ rơi, cũng sẽ không đau đớn cùng cực, thương tích đầy người như nàng bây giờ.
Ánh trăng lặng lẽ len qua cửa sổ chiếu lên vai hai người, Sở Kiều đột nhiên cảm thấy vô cùng rã rời.
Nhưng Lý Sách à, ta mất mười một năm cố sức leo một ngọn núi vì được người cho biết trên đỉnh núi có một đóa tuyết liên, nhưng sau khi tiêu hao hết sức lực, leo đến nơi lại phát hiện đỉnh núi trơ trụi, cái gì cũng không có. Ta đã đổi mạng vô số lần để leo lên được đỉnh núi cao chót vót đó, nhưng đổi lại là nỗi thất vọng lớn như thế, ngươi nói xem, ta phải làm thế nào mới có thể leo xuống?
"Kiều Kiều, hy vọng nằm trong tay mỗi người, nàng tự mình buông bỏ thì không ai có thể giúp được nàng cả."
................................................................................................................................
Từng ngày trôi qua, đã vào đông nhưng giá rét tựa như chưa từng hiện hữu ở Biện Đường. Sở Kiều cuối cùng vẫn không danh không phận ở lại cung Kim Ngô, nhưng ở nơi cung đình hoa lệ này, ít ỏi nhất lại chính là nữ tử không danh phận, cộng thêm danh tiếng hiển hách lúc trước của bản thân, thành ra không một ai dám tới phiền nhiễu Sở Kiều.
Ngoài dự đoán, Đại Hạ không hề đến buộc giao người như trong tưởng tượng. Bọn họ cứ như đã nhận định Sở Kiều là phế nhân vậy, mọi ân oán khi trước đều xóa bỏ, thậm chí một sứ giả đến chất vấn cũng không có.
Sở Kiều cũng cảm thấy điều này rất không bình thường, thân phận nàng hiện giờ tựa như tù binh Nhật năm xưa vậy. Với tâm tình phẫn hận nôn nao phản chiến của Đại Hạ, sao lại dễ dàng bỏ qua cơ hội tóm lấy kẻ thù sa cơ là nàng?
Đi hỏi Mai Hương thì cô nàng liền dõng dạc nói: "Bọn chúng mà dám đến thì em sẽ bảo Hạ thống lĩnh chém rụng hết đầu bọn chúng."
Tiểu nha hoàn Thu Tuệ vừa được Lý Sách phái đến tươi cười đặt chén tuyết lê chưng xuống, đắc ý tiếp lời: "Mai Hương tỷ nói rất đúng, hơn nữa, bệ hạ đối xử với cô nương tốt như vậy, ai không sợ chết dám tới đây hô to gọi nhỏ chứ?"
Sở Kiều lắc đầu nhưng trong lòng vẫn còn hơi lo lắng, cảm thấy mọi chuyện không đơn giản như vậy, chẳng lẽ Lý Sách bị Đại Hạ buộc đáp ứng điều kiện gì sao?
Thiền Nhi chợt rụt cổ nói: "Em lại nghe nói, Đại Tư Mã gì đó của Đại Hạ đang cố sức giao hảo với Biện Đường chúng ta, cho nên Đại Hạ mới không đến gây chuyện với cô nương."
Đại Tư Mã?
Sở Kiều thoáng cau mày, Đại Tư Mã là vị trí nguyên lão đứng đầu hội trưởng lão của Đại Hạ, Ngụy Quang thật sự muốn tha cho nàng?
Nàng đã khá lâu không thăm hỏi chuyện thế ngoại rồi, mặc cho bên ngoài có hỗn loạn đến đâu, nàng luôn thành thật nghe theo lời Lý Sách cả ngày ở trong Mật Hà cư sống một cuộc sống bình thường yên ả.
Nửa đời nàng đã cột chặt với Yến Tuân, luôn đi trong màn sương cùng gió tanh mưa máu, kinh qua bao đao quang kiếm ảnh, hôm nay cuối cùng cũng đến đường cùng, không còn lối đi và cũng không đi nổi nữa.
Về sau nàng cũng từng hỏi Lý Sách vì sao Đại Hạ không đến đòi người. Lúc đó Lý Sách đang hăng hái cho nàng xem danh sách tuyển tú năm nay, nghe hỏi thì ngẩng lên ném sang một ánh mắt mị hoặc, cười vô lại: "Không chừng là vì Hạ hoàng vẫn còn ôm ảo tưởng với ta."
Cho dù tình hình có không ổn đến mức nào, Sở Kiều cũng không nhịn được phì cười một tiếng, lắc đầu bỏ qua rồi cùng hắn săm soi bản danh sách dài gần ba thước kia, nhìn các thiếu nữ tuổi tác không khác nàng lắm nhưng mày mục lại tràn đầy vẻ phong tình, cảm thấy quả thực là một thế giới khác.
Trước khi rời đi, Lý Sách dừng ở bậc cửa, đột nhiên quay lại cười nói với Sở Kiều: "Kiều Kiều, tỉ mỉ nghĩ lại xem, trên đời này còn ai tốt với nàng như vậy, cam tâm tình nguyện tất cả vì nàng, vì nàng vào sinh ra tử, vì nàng tán gia bại sản, vì nàng vứt bỏ mọi thứ, ngay lúc nàng nguy nan ra tay cứu giúp cũng không để nàng biết. Người như vậy vốn không nhiều đâu, phải suy nghĩ kỹ một chút, thông suốt rồi thì báo ta biết, ta sẽ chuẩn bị đồ cưới cho nàng, sau đó long trọng gả nàng ra đi."
Tán ngô đồng đỏ rực che khuất mặt trời, tia nắng xuyên qua tầng lá chiếu vào nội điện vàng son.
Sở Kiều đứng giữa đại điện thanh tĩnh, cẩn thận ngẫm nghĩ câu nói của Lý Sách trước khi rời đi, cẩn thận xem xét lại trận chiến sau cùng ở Bắc Yến, lúc tấn công, lúc phòng thủ, lúc lui binh, là ai đã che chở cho mình, ai có thể ngăn cản đại quân, ai có thể kịp thời báo tin cho Lý Sách, ai mới có thể ung dung ra vào cảnh nội Bắc Yến dễ dàng như vậy, còn nữa, ai mới có thể tốt với nàng đến như vậy...
Hồi ức phủ bụi trong đầu trỗi dậy từng chút một, tựa như vô vàn dây leo cuốn lấy nàng treo lên cao.
Vầng trăng trên cao hơi chếch về hướng Tây, vắt ngang ngọn cây, phủ ánh sáng nhu hòa lên vạn vật.
Trăng tàn thì mặt trời lên, một ngày mới lại đến.
Sở Kiều đã đứng như vậy suốt đêm, không ngừng tìm cách chứng thực suy nghĩ kinh người trong đầu. Dần dần, ánh mắt nàng như có ánh sáng, nước mắt trong trẻo trào ra khỏi viền mắt, từng giọt lóng lánh như châu ngọc nhưng không hề ẩn chứa bi thương. Cảm giác vui mừng và hy vọng như bao phủ tâm trí nàng, khiến thân thể nàng không nhịn được mà run rẩy.
Khi tia nắng sớm đầu tiên chiếu vào gian phòng, hắt lên khuôn mặt tái nhợt của Sở Kiều, nàng chợt mỉm một nụ cười trong trẻo như một đứa trẻ, cười mà nước mắt chảy ướt cả mặt.
................................................................................................................................
Ngày Sở Kiều rời khỏi cung Kim Ngô, trời vẫn mưa lất phất. Không hề nói lời từ biệt với Lý Sách, nàng chỉ mang theo một tay nải đơn giản, một mình cưỡi ngựa ra khỏi cửa Chính Dương, mưa rả rích thấm ướt vai nhưng toàn thân nàng lại như bừng bừng sức sống.
Lý Sách vẫn là một hoàng đế tùy hứng như cũ, hiện tại hắn đang ngồi trên nóc chính điện quốc tử, bóng dáng mặc trường sam đỏ thẫm ngồi vắt vẻo trên mái ngói cong cong, bên dưới là đám đại thần đang lo lắng gào khóc nhưng hắn vẫn như không nghe thấy. Gió Nam ấm áp hất tung vạt áo giấu ám tiễn phía dưới, hắn dõi mắt nhìn ra quảng trường Tường Vi ở xa xa, bóng dáng áo vàng của thiếu nữ cưỡi trên bạch mã vẫn nổi bật giữa hai hàng ngô đồng lá đỏ, rực rỡ như một bức họa hoa mỹ.
Bốn tháng, cũng đã đủ rồi.
Lý Sách khẽ cười, nâng tiêu lên thổi một khúc nhạc khoan khoái đưa tiễn Sở Kiều. Tiếng tiêu trong vắt, uyển chuyển như tiếng sơn ca bao trùm lên tòa cung điện hào nhoáng phồn hoa, lướt trên hành lang vắng vẻ, băng trên tường thành đỏ tía, luồn qua cửa cung nguy nga vàng son, theo bóng dáng của nàng đi về phía chân trời rộng lớn.
Tương trợ trên Mi Sơn, bị gia tộc trừng phạt, suýt nữa chôn vùi tiền đồ.
Ở thành Cống Duyệt, vứt bỏ đường lui, vứt bỏ sinh mạng, bị quốc gia ruồng bỏ, bị gia tộc trục xuất, bị hàng vạn hàng nghìn dân chúng thóa mạ, chết cũng không được vào tông miếu, chân chính trở thành phản tặc của toàn đế quốc.
Vùng lên từ trong tuyệt cảnh, dùng hai bàn tay trắng thay đổi càn khôn ở Thanh Hải, oai dũng uy hiếp cả đại lục. Thời cơ chưa đến nhưng vẫn xua quân tiến công, chỉ vì cứu mạng hồng nhan.
Trong lúc Đại Hạ lăm lăm đao sắc nhăm nhe Biện Đường, trong lúc Bắc Yến phát binh chinh Đông để rửa mối hận đoạt hồng nhan nhưng lại cam nguyện vứt bỏ cơ nghiệp vinh quang trở về cố thổ, dùng trăm vạn hùng binh làm vật cược... Cuối cùng lại được đền bù như ý nguyện...
Gia Cát Nguyệt, ta vẫn cho rằng bản thân là người điên cuồng nhất trên đời này, nhưng đối mặt với ngươi, ta cuối cùng cũng biết mình nông cạn đến mức nào...
Lý Sách yếu ớt cười thầm, tranh đoạt với một người điên, thắng thế nào được?
Tất cả chúng ta đều là con cờ được trời cao an bày từ trước, vùng vẫy thế nào cũng không thoát, Yến Tuân cũng vậy... nhưng chỉ có ngươi là đủ dũng khí hết lần này đến lần khác thoát ra, đủ dũng khí hết lần này đến lần khác nhảy vào xoáy nước.
Ta cuối cùng đã bại dưới tay ngươi, thua một cách tâm phục khẩu phục.
Tiếng tiêu chợt trở nên cao vút, âm điệu vô cùng vui vẻ, đối lập với tiếng khóc lóc của đủ loại quan lại bên dưới quả thực hơi buồn cười. Tôn Đệ đứng dưới mái điện, nhìn lên bóng dáng thoạt nhìn đại nghịch bất đạo kia, nhìn hắn được bao phủ trong khúc nhạc tươi sáng nhưng lại đơn độc dị thường.
Gió thổi qua con đường dẫn đến cung điện, dội lên tường thành cao ngất hai bên, thoang thoảng mùi hương trong trẻo từ bên ngoài.
Dưới nắng sớm ấm áp, không gian như có gì đó nhẹ lay động, phá tan màn sương tịch mịch của đêm khuya, khiến lớp bụi mờ phủ trên cung điện bay lên, phiêu du trong không trung.
Hắn vẫn luôn như vậy, luôn dùng ánh mắt nửa say nửa tỉnh quan sát mọi chuyển biến trên thế gian này...
Màn đêm dần buông xuống, tiếng khóc lóc cũng đã tắt, có mấy cựu thần bị kinh hãi quá độ ngất đi, đã bị khiêng xuống từ lâu. Toàn cung điện được bao phủ trong ánh đèn xa hoa, hàng trăm ngàn ô cửa sổ bừng lên, lẳng lặng rọi sáng mọi vật.
Lý Sách bước từng bước xuống thang, đám quan lại nhào đến, khóc lóc nói cái gì bệ hạ phải chú ý thân thể, chớ hành động tùy hứng như vậy nữa, vân vân...
"Chư khanh quả nhiên hết lòng hết dạ vì trẫm, hôm nay trẫm đã suy nghĩ thông suốt rồi. Các ái khanh hãy mau bình thân."
Chúng quan lại nhất thời nước mắt như mưa, cảm thán cuối cùng hoàng thượng cũng giác ngộ rồi.
"Để cẩn thận suy xét lại hành vi cùng lời lẽ của mình, trẫm quyết định không lâm triều ba ngày. Tất cả về nhà tự mình suy ngẫm đi, nghiên cứu quốc đạo rồi tới nói cho trẫm nghe."
Dứt lời, Lý Sách liền nghênh ngang rời đi trong ánh mắt còn ngu ngơ của đông đảo đại thần, đi được vài bước hắn lại vội vã quay lại ra lệnh cho nội thị: "À quên, mau đi chuẩn bị yến tiệc cho suốt ba ngày tới, nhớ mang tất cả tú nữ trúng tuyển năm nay đến điện Nhu Phúc nữa đấy."
Tất cả im bặt, vị đế vương trẻ tuổi vừa rời đi vừa cười to một cách đắc ý.
Nếu vận mạng đã định chúng ta sẽ như phù du lao vào ánh sáng tìm kiếm mục tiêu cả đời thì...
Kiều Kiều, mong nàng có thể là con phù du duy nhất thoát khỏi vòng xoáy điên cuồng này.
Chương 161: Trong ánh đèn mông lung
Ra khỏi Bạch Chỉ Quan sẽ chính là lãnh thổ Đại Hạ, tuy hiện tại đã là cuối đông nhưng thành Hiền Dương tọa lạc ở phía Tây Nam nên khí hậu vẫn rất ôn hòa. Lúc Sở Kiều ra khỏi cửa khẩu thì trời vẫn còn mưa.
Dãy núi xanh nhạt ở xa xa chìm trong màn mưa trắng xóa, dòng sông uốn lượn trôi lững lờ, hoàng hôn trên hoang nguyên đặc biệt đẹp, ánh sáng đỏ au phản chiếu trên mặt sông như dát hồng mọi vật. Chân trời thấp thoáng trăng non vừa nhú, gió nhẹ phe phẩy qua lại khiến thảm cỏ vàng rì rào như tiếng đại dương hát.
Đứng trên con đường dẫn đến thành Hiền Dương , Sở Kiều đột nhiên có hơi do dự không biết có nên vào thành hay không. Hơn mười năm qua cuộc đời nàng như một bức họa đơn sắc, tám năm đầu u ám như đêm không trăng, ba năm sau do máu tươi và vết đao vẽ thành. Hiện tại đột nhiên tháo bỏ mọi gông xiềng, nàng lại không biết nên đi đâu.
Mọi kích động ban đầu đã dần biến mất, thay vào đó là khí lạnh thanh tỉnh thần trí của nàng. Nếu thật như nàng nghĩ, thân phận hiện giờ của hắn sao có thể qua lại với người như nàng? Nàng đã mấy lần đẩy hắn vào hiểm cảnh, bây giờ lại muốn hại hắn mất tất cả sao? Còn nếu không như nàng nghĩ thì lời Lý Sách nói cũng chỉ ám chỉ là Yến Tuân muốn thả nàng đi sao?
Nhưng nàng bây giờ, cả dũng khí mở miệng hỏi một câu cũng không có.
Cuối cùng Sở Kiều vẫn quyết định lưu lại trong thành Hiền Dương, nàng thuê một khuôn viện nhỏ hẻo lánh, trước viện có mọc hai gốc liễu hiện đã trụi lá, thân cành khô vàng.
Thoáng cái đã qua bảy tám ngày, lại sắp cuối năm, trong thành Hiền Dương đã bắt đầu giăng đèn kết hoa, không khí vui mừng lan tỏa khắp nơi. Chủ nhà ở sát bên thấy Sở Kiều một thân một mình thì đã hai ba lần muốn mời nàng cùng đón năm mới, nhưng lại bị nàng lịch sự từ chối.
Lại thêm ba ngày trôi qua, hôm nay là tết Nguyên Tiêu, sáng sớm có tuyết rơi lất phất, nhưng bông tuyết còn chưa chạm đất đã tan thành nước, tạo thành một tầng sương đọng trên lá cây. Đỉnh núi xa xa thì đã trắng xóa một màu, chân núi lại xanh rì, ngô đồng trong thành đỏ hơn cả màu nắng, cảnh sắc vô cùng tươi đẹp.
Chủ nhà là một người phụ nữ hơn ba mươi tuổi, dáng vóc tròn trịa, mặt mày phúc hậu, dưới gối có một trai một gái, trượng phu là tiên sinh dạy học của một thư quán tư nhân trong thành, gia cảnh cũng coi như là khá giả. Đứa bé gái kia dường như rất thích Sở Kiều nên mỗi ngày đi qua nhà nàng đều nghểnh cổ nhìn vào trong, ca ca cô bé thấy vậy thì thỉnh thoảng làm bệ đỡ cho cô bé nhón chân qua bờ tường nhìn trộm một chút.
Khi đêm xuống, Sở Kiều ngại chủ nhà lại sang mời cơm nên đã ra ngoài từ trước.
Trời vẫn còn chưa tối hẳn, hoa đăng trên phố cũng chưa sáng mà trên đường đã hết sức tấp nập. Bốn phía đều là người qua người lại, hai bên đường đầy ắp gánh hàng rong, đồ ăn thức uống, đèn lồng đủ loại. Sở Kiều không thích chốn đông người nên chọn con phố vắng vẻ hơn mà đi.
Dịp lễ Nguyên Tiêu nên chúng phu nhân tiểu thư ngày thường ít lộ diện cũng líu ríu ra ngoài chơi, trên đường nhìn chỗ nào cũng dễ dàng thấy được mấy cỗ xe ngựa sang trọng. Từng chiếc từng chiếc chạy qua chạy lại bên người Sở Kiều, tiếng cười vui vẻ theo gió Nam ấm áp bay xa, tô thêm vẻ thanh bình.
Giữa đám đông ăn mặc tươi tắn đẹp đẽ, phục sức của Sở Kiều lại vô cùng đơn giản. Nhưng dù sao cũng là vải vóc trong hoàng cung Biện Đường, so với đồ thường dân dùng thì tinh xảo hơn nhiều, áo lụa màu hồng nhạt phối cùng la quần xanh nhạt thêu chìm hình hoa ngọc lan, xa xa nhìn lại, mỗi bước chân vô cùng uyển chuyển. Cộng thêm khí chất thanh tĩnh đặc biệt, một mình Sở Kiều đi lại trên con đường rợp bóng ngô đồng đã thu hút không ít ánh mắt của chúng thư sinh công tử đi ngang. Cũng có người muốn đến gần bắt chuyện, nhưng vừa đến trước mặt nàng thì lại do dự, cảm thấy khí chất lạnh lùng đạm mạc kia của nàng cũng không phải là giả, và chủ yếu là ánh mắt nặng nề xa xăm của nàng đã khiến bọn họ chùn chân, lúc bọn họ tỉnh lại thì nàng đã đi xa.
Trời bắt đầu tối, hoàng hôn tắt hẳn, trăng tròn nhẹ nhú, trời thưa thớt ánh sao, ánh trăng yếu ớt xuyên qua tán lá rải bóng lên đầu vai thiếu nữ.
Đây cũng không phải là lần đầu tiên Sở Kiều đến thành Hiền Dương. Ba năm trước, nàng dẫn binh chạy khỏi thành Chân Hoàng, gặp được hai huynh muội Triệu Tung và Triệu Thuần bị nạn giữa đường, sau vì hộ tống bọn họ mà bị đuổi giết, rồi ở tại nơi này bị bắt làm nô lệ cùng với Lương Thiếu Khanh, sau lại bị bán vào Chiêm phủ, nhưng nhờ thế mà tìm được ba tỷ muội Kinh Tử Tô.
Năm tháng trôi qua như nước, Triệu Tung nhiều năm không tin tức, vị hoàng tử năm đó hô phong hoán vũ nay đã sớm vì tàn tật phải rời khỏi chính trường Đại Hạ. Triệu Thuần thì còn thê thảm hơn, từng bước chìm sâu dưới bùn, nay không biết thân đã ở phương nào. Còn Kinh Tử Tô thì đã trở thành u hồn thời loạn mà không ai nhớ thương.
Sở Kiều khẽ nhếch môi, nụ cười của nàng rất nhạt, ý cười chưa đến đáy mắt đã tan biến như sương khói, chỉ còn lại bi thương vô bờ.
Có lẽ, chỉ có người như Lương Thiếu Khanh mới có được cuộc sống khoái hoạt, thế gian này, người hiểu quá nhiều, biết quá nhiều sẽ không bao giờ được vui vẻ.
Xa xa sáng rực ánh đèn lồng, đỏ xanh vàng tím đủ màu, lấp lánh chói mắt. Tiếng pháo đì đùng khiến đám trẻ con thích chí cười vang, người bán hàng rong cao giọng mời chào, các cô nương ăn vận xinh đẹp không ngừng cười nói khúc khích. Gió từ bờ hồ thổi đến, đường phố đông đúc nhưng Sở Kiều lại không cảm thấy được chút ấm áp nào.
Hội đèn đêm Nguyên Tiêu, đã là chuyện rất xa...
Sở Kiều quay đầu nhìn, ánh mắt như xuyên qua thời gian không gian dừng lại ở hình ảnh khi xưa. Chú ngựa con đỏ thẫm, bé gái mặc áo lông trắng tay cầm chiếc đèn hình thỏ cũng màu trắng, chậm rãi đi theo sau lưng thiếu niên. Thiếu niên quay đầu lại, ánh mắt của hắn rất điềm tĩnh cũng rất thanh lãnh. Lúc ấy, nàng cho rằng đó là một ánh mắt vô tình tàn nhẫn, không chút độ ấm, đôi con ngươi trong suốt tựa gương phản chiếu mọi thứ, ánh mắt luôn cao cao tại thượng, khinh thường nhìn xuống chúng sinh.
Nhưng bây giờ nhớ lại, nàng như nhìn được đến đáy mắt hắn, như có thể thấy chút tang thương luôn bị che giấu bên trong đôi con ngươi sâu thẳm kia...
Nếu như không có hội đèn đêm đó, không có pháo nổ làm chấn kinh ngựa của nàng, khiến nàng không bị chở ra ngoài thành, không cùng Yến Tuân lội tuyết một đêm... mọi chuyện liệu có thay đổi, không như bây giờ không?
Có lẽ là không. Nàng có lẽ vẫn nắm chặt cán đao quay đầu lại, hắn có lẽ vẫn phản bội lời thề của mình. Tất cả có lẽ vẫn theo vòng xoáy của số mệnh, không ai thoát ra được.
Nhưng ít nhất, nếu không có một màn bị thất lạc, hôm nay ký ức của nàng, đêm Nguyên Tiêu đó có lẽ không chỉ có một bóng lưng mơ hồ cùng một chiếc đèn hình thỏ trắng mà thôi...
Bất tri bất giác Sở Kiều đã đi một đoạn rất xa, đi đến trước một gốc cây vừa to vừa cao mọc bên bờ hồ. Nhìn thân cây cũng có thể đoán tuổi thọ tối thiểu ba bốn chục năm, trên tán lá buộc đầy vải đỏ cùng hình giấy đủ màu. Đây là mê tín của dân chúng nông thôn, bọn họ tin rằng trong mỗi gốc cổ thụ đều có thần cư ngụ, tuổi thọ cây càng lớn thì chức vị của thần càng cao. Cho nên gốc cây như thế này sẽ thường xuyên có dân chúng đến lễ bái, cầu xin mọi chuyện thuận lợi, người thân được bình an.
Sở Kiều đứng dưới tàng cây, đáy lòng chợt dâng lên một cảm xúc không rõ. Nàng không biết trên tàng cây có gì nhưng chỉ lẳng lặng ngẩng đầu lên nhìn thật lâu, hai mắt khẽ nheo, vẻ mặt không buồn không vui, tầm mắt tựa như muốn xuyên qua bụi thời gian tìm lại chuyện cũ.
Sở Kiều không biết, ba năm trước sau khi nàng bị Chiêm phủ mua đi, từng có một người cưỡi ngựa đi ngang nơi này. Hôm đó trời xanh mây trắng, nam nhân cũng lẳng lặng đứng dưới tàng cây này như nàng hiện giờ. Khi đó, hắn và nàng đã lỡ mất nhau.
Sở Kiều đưa tay lên ngựa, sờ vào ngọc bội giấu trong áo, đột nhiên trở nên thất thần.
Ngọc bội này là nàng đoạt được từ trên người Gia Cát Nguyệt khi hai người giao chiến trong quý phủ của thành thủ thành Ổ Bành. Sau khi phát hiện ra nàng giả mạo vũ cơ, hắn còn giơ tay hướng nàng đòi ngọc. Lúc đó, nàng còn đang tức giận nên thuận miệng nói đã ném vào trong hồ rồi, hại hạ nhân trong phủ bận rộn cả đêm ngụp lặn nhưng vẫn hoài công.
Ngày rời thành đi Bắc Yến, thần xui quỷ khiến nàng lại mang theo nó.
Thời gian thấm thoắt trôi qua, ký ức tựa vẫn sáng trong tựa gương.
Quanh đi quẩn lại, thì ra dây mơ rễ má giữa hắn và nàng nhiều như vậy. Khoảng cách núi sông không thể cắt đứt, thời gian năm tháng cũng không, âm dương cũng không, chỉ có quốc thù nợ nước ngăn trở bọn họ mà thôi. Và nàng bây giờ, không có cả tư cách lẫn dũng khí đến gần hắn.
Thoáng chốc, trong đầu như có ngàn vạn suy nghĩ tràn vào, Sở Kiều nhắm hai mắt lại, vung tay ném ngọc bội lên ngọn cây.
Thế sự trêu ngươi, đến cuối cùng nàng và hắn vẫn chẳng là gì của nhau.
Khi Sở Kiều quay người chuẩn bị muốn rời đi thì bên tai bất chợt vang lên một tiếng *đinh* trong trẻo, như có thiếu nữ vừa đặt ngón tay thon dài của mình lên dây cổ cầm nhẹ khảy một tiếng, âm thanh êm tai ngân dài trong đêm, len lỏi vào tâm can người nghe. Nàng hốt hoảng xoay đầu lại, hai miếng ngọc sáng loáng tuột khỏi tán cây, vừa vặn rơi xuống trên tay nàng.
Chất ngọc trắng muốt, trơn bóng nhẵn mịn, cả hình thức và độ lớn đều giống hệt nhau, là một đôi ngọc bội song sinh.
Sở Kiều sững ra, máu trong tim như sôi lên, cảm xúc cuồn cuộn khiến tim nàng như muốn vỡ ra, cổ họng thít lại đau đớn, khóe mắt nóng bỏng mờ hơi sương. Nàng nhắm mắt lại, cố hết sức mới có thể đè ép cảm giác chua xót đang chực dâng trào.
Trong đầu như thấp thoáng thấy được một bóng dáng đứng dưới gốc cây. Nam nhân vạt áo phiêu dật, mày mục như vẽ, mang vẻ mặt khó tả bằng lời ném ngọc bội lên tán cây rồi thúc ngựa xoay người lại, chậm rãi rời xa gốc cổ cây cầu an này...
Hai mắt cay xè nhưng lệ vẫn không hề rơi, Sở Kiều im lặng đứng đó, mặc cho thời gian trôi qua. Ánh đèn lồng lấp loáng xẹt qua người, trên mặt hồ đông nghịt thuyền hoa lững lờ trôi, tiếng cười đùa của trẻ con văng vẳng bên tai nhưng nàng như vẫn còn trong mộng. Mãi đến khi một người bán đèn gánh hàng đi ngang qua, nàng mới giật mình tỉnh lại.
Vẫn màu đó, vẫn hình dáng đáng yêu, thật giống chiếc đèn nàng từng sở hữu. Sở Kiều lẳng lặng ngắm chiếc đèn, tầm mắt không hề dao động. Cho đến khi người bán hàng sốt ruột, nhướng mày hỏi: "Ta nói này cô nương, cô rốt cuộc có muốn mua hay không vậy?"
Sở Kiều hốt hoảng móc tiền ra trả rồi cầm chiếc đèn hình thỏ đứng giữa đường, bóng lưng đơn độc, vẻ mặt mờ mịt như một đứa trẻ bị lạc.
Dòng người không ngừng tuôn chảy trên phố, Sở Kiều thất thần đi giữa đám đông, bên cạnh đều là người người vui vẻ nói cười, tiếng trống tiếng chiêng vang vang. Con đường sáng rực ánh đèn lồng đủ màu, không gian pha lẫn vô số mùi hương, mùi thơm nức của thịt nướng, hương phấn son nồng nàn của chúng thiên kim tiểu thư, và cả mùi hàn mai mới nở. Đủ loại hoạt động vui chơi, thả hoa đăng, đoán đố đèn, xiếc tạp kỹ, ca múa nhạc, tất cả tạo thành một khung cảnh vô cùng vui vẻ náo nhiệt.
Sở Kiều nhìn thẳng phía trước, một mình len lỏi giữa dòng người qua lại, cẩn thận giữ chiếc đèn trong tay không để nó bị đụng hỏng.
Ánh đèn phù hoa hai bên đường phản chiếu lên mặt nàng, lộ rõ vẻ mặt cô tịch cùng bóng dáng đơn độc, khiến nàng như cách xa hình ảnh náo nhiệt xung quanh.
Có người nhìn thấy nàng nhưng cũng có người không có thời gian chú ý đến nàng, Sở Kiều cứ như vậy lặng lẽ đi trên phố, không hề để tâm đến càng lúc càng có nhiều ánh mắt đang nhìn về phía mình. Nàng cứ đi mãi về phía trước, nhưng cuối cùng vẫn không rõ bản thân đến cùng là muốn đi đâu.
Nến trong đèn rốt cuộc cũng cháy gần hết, ánh đèn hai bên đường cũng mờ dần, Sở Kiều đi đến bên bờ hồ, cẩn thận thả chiếc đèn xuống trên mặt hồ, nước hồ làm ướt mép váy nhưng nàng vẫn không bận tâm. Hàng liễu buông rủ chạm qua mặt ngưa ngứa, gió nhẹ chợt nổi lên, vô số cành liễu đong đưa tựa như dây xích, uyển chuyển quấn lên bờ vai nàng.
Gia Cát Nguyệt, cả đời này của ta phải nợ ngươi rồi. Nếu như có thể, kiếp sau xin gặp nhau đúng lúc hơn.
Ngón tay trắng muốt khẽ đẩy, chiếc đèn hình thỏ bập bềnh trôi ra xa theo gợn sóng lan tỏa, cuối cùng hòa nhập với biển hoa đăng trôi nổi giữa hồ.
Sở Kiều đứng dậy, hai mắt vẫn chăm chú nhìn ra giữa hồ. Gió đêm thổi lên mặt nàng, sắc lạnh như tên nhọn vừa xẹt qua tim nàng. Xung quanh tràn ngập sắc màu nhưng ánh sáng trong tim nàng lại như ngọn đèn đang trôi ra xa kia, nến hết đèn sẽ tắt. Nàng đã quyết định tự tay bóp nát hy vọng kia, lặng lẽ bao phủ thế giới của mình bởi một màu xám.
Thế rồi đột nhiên, một gợn sóng to chợt đánh về phía chiếc đèn bé nhỏ, con thuyền hoa đầu rồng rẽ nước lướt qua, mái chèo đảo mạnh khiến sóng càng to. Chiếc đèn nhỏ chao đảo dữ dội, chuẩn bị chìm xuống nước.
Chẳng rõ vì sao, trái tim đã chết lặng của Sở Kiều lại đột nhiên căng thẳng, nàng không tự chủ tiến lên, hàng mày khẽ nhíu như đang lo lắng cho chiếc đèn nhỏ.
Cùng lúc đó, một hoa đăng lớn hơn chợt trôi đến, vừa vặn móc phải hoa đăng của Sở Kiều. Hai chiếc đèn quấn vào nhau, xoay tròn vài vòng, hoa đăng to hơn đã ngoài ý muốn che chắn phần lớn sóng nước cho hoa đăng nhỏ. Cuối cùng, cả hai chiếc cùng nhau trôi về một bờ hồ yên tĩnh hơn. Chiếc đèn lớn kia cũng là đèn hình thỏ, một lớn một nhỏ dựa vào nhau, nhìn vô cùng hài hòa. Có đèn lớn cản bớt gió, chiếc đèn nhỏ dường như sáng hơn, dịu dàng chiếu sáng bờ hồ yên ả.
Sở Kiều khẽ thở phào, tuy biết rằng đèn cuối cùng cũng phải tắt, nhưng có thể sáng thêm được một lúc vẫn tốt hơn.
Hàng mày vừa nhíu chậm rãi giãn ra, Sở Kiều nhẹ thở ra rồi lơ đãng nhìn sang bờ hồ bên kia, bất giác nhìn thấy một bóng dáng luôn xuất hiện trong tâm trí suốt hai năm qua...
Cả người như bị điện giật, Sở Kiều sững sờ đứng chết trân. Dường như nàng vừa nhìn thấy hắn, gió đêm vẫn mềm mại như năm đó, bóng dáng áo trắng tinh khôi, tóc đen như mực, môi đỏ tựa son, ánh mắt sâu thẳm chỉ lẳng lặng nhìn đã lấn át toàn bộ hàng ngàn hàng vạn ánh đèn trong thế giới của nàng.
Thuyền rồng lại lững lờ lướt ngang, xuyên qua màn lụa đỏ thẫm bay bay trong gió, bốn mắt như xuyên qua khoảng cách thiên sơn vạn thủy tìm lại nhau. Trong khoảnh khắc, thời gian như đảo lộn, hình ảnh trước mắt và trong hồi ức như hòa làm một, hư hư thực thực.
Hắn cũng đang lẳng lặng nhìn nàng, trong tay cũng đang cầm một thanh gỗ treo đèn như nàng. Ánh mắt sâu thẳm như xuyên thấu mọi vật, mọi vui buồn tan hợp tựa như là chuyện của kiếp trước, vượt qua mọi khó khăn cách trở, cuối cùng đến nơi này, đọng lại trên ngọn hoa đèn sáng rực rỡ kia.
Trong một khắc, phía sau hai người như chợt bốc lên hàng vạn cột khói lửa máu tanh, soi rõ ánh mắt đang giao nhau của bọn họ.
Sở Kiều nhìn hắn bằng ánh mắt mà hắn chưa từng nhìn thấy bao giờ, hắn thậm chí cũng không biết phải nên dùng từ ngữ gì hình dung mới đúng. Giống như người đi trên sa mạc nhìn thấy ảo ảnh, giống như đứa trẻ bị lạc tìm lại được quê hương, như không thể tin nhưng lại chẳng nỡ rời mắt, khao khát nhưng lại biết làm thế nào cũng không có được. Đó là hơn sáu trăm đêm mong đợi, thế rồi kỳ vọng ấy lại bị tia nắng mặt trời đầu tiên của ngày hôm sau dập tắt.
Nàng hé môi tựa như muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng vẫn không nói ra lời. Cánh môi hồng khẽ run rẩy, hé ra rồi lại mím chặt nhưng sau cùng lại cong lên thành một nụ cười rực rỡ. Ý cười còn chưa lan đến đáy mắt thì hai hàng nước mắt đã rơi xuống, thấm ướt đẫm khuôn mặt chứa chan tang thương xen lẫn mừng rỡ của nàng.
Thuyền rồng vừa tản đi, Sở Kiều đột nhiên nhấc chân chạy như điên về phía người mà nàng đã tránh né, từ chối cả đời. Trong lúc chạy, nàng bất giác không kìm nén được hoảng hốt trong lòng, sợ hãi đó chỉ là ảo ảnh tâm trí bản thân tạo ra mà thôi, chỉ cần đụng vào thì sẽ lập tức tan biến.
Thiếu nữ chạy cuống cuồng khiến người đi đường đều kỳ quái nhìn sang, nhưng nàng cũng không hề bận tâm. Vạt áo hồng nhạt tung bay theo mỗi bước chân, gió lướt qua hai tai, nàng chạy qua bờ hồ, xuyên qua rừng mai, băng qua cầu đá, vượt qua rặng liễu, lúc gần đến lại dừng chân thở hổn hển, cảm thấy tất cả như một giấc mộng phù hoa không chân thật khiến lòng người hoảng hốt.
Gia Cát Nguyệt vẫn chăm chú nhìn nàng, ánh mắt thanh tĩnh như bao lấy cả người nàng, ẩn chứa sự thương tiếc nhàn nhạt.
Một đám đông đột nhiên đi ngang qua giữa bọn họ.
Sở Kiều đột nhiên sợ hãi, không giống như khi đối diện với cái chết, không giống như khi lưu lạc bốn phương, mười mấy năm qua, chỉ duy nhất hai lần tâm trí kiên định của nàng xuất hiện cảm giác khủng hoảng như thế này. Lần đầu tiên là khi hắn chìm xuống hồ băng sâu thẳm, lần thứ hai, chính là bây giờ.
Nàng liều lĩnh chạy đến nắm chặt vạt áo hắn, mặc kệ đám đông chen lấn thế nào cũng không buông tay.
Trên tay chợt truyền đến cảm giác nóng ấm, bàn tay nàng vừa được ai đó nắm chặt.
Trong ánh đèn rực rỡ, nàng tiến đến gần hắn hơn. Hắn cũng dùng hai tay mình che chắn cho nàng một không gian an tĩnh. Hai bên chen chúc người qua người lại, nàng cách hắn rất gần, gần đến mức có thể cảm nhận được hơi thở của hắn. Ánh mắt đen nhánh của nàng nhìn hắn chăm chăm, tựa như muốn hằn sâu lên mặt hắn.
Nước mắt bắt đầu trào ra, nàng cố trấn tĩnh nhưng vẫn không nhịn được run rẩy giơ tay ra, tựa như muốn chạm lên mặt hắn.
Mày kiếm sắc bén, ánh mắt cao ngạo thanh tĩnh không vương khói lửa, lạnh lùng nhưng luôn dõi theo nàng, đôi môi luôn nói lời cay nghiệt không như biểu hiện cao ngạo hờ hững bề ngoài của hắn...
Đáp án nàng vẫn tìm kiếm ngay ở trước mắt nhưng nàng lại cảm thấy toàn thân vô lực, trước ngực thít chặt. Dưới chân đột nhiên mềm nhũn khiến nàng chợt chao đảo.
Hắn nhanh tay lẹ mắt đỡ eo nàng. Khoảnh khắc thân thể tiếp xúc, năm tháng tang thương như lại trôi qua trước mắt. Tiếng nấc bị đè nén rất lâu rốt cuộc bật khỏi môi Sở Kiều. Hắn siết nàng vào lòng, nước mắt của nàng rơi xuống trên ngực, xuyên qua lớp áo thấm ướt cả trái tim hắn.
"Sao lại gạt ta? Sao không đến gặp ta? Ta tưởng huynh đã chết..." Sở Kiều nghẹn ngào, toàn thân run rẩy từng hồi theo tiếng nức nở, không ngừng thổn thức, "Ta tưởng huynh đã chết..."
Gia Cát Nguyệt nhếch môi, vẫn không nói lời nào. Hắn đi ngàn dặm cũng không phải để mong gặp được nàng mà chỉ hy vọng có thể gần nàng hơn một chút.
Và cổ thành Hiền Dương chính là thành trì gần với Biện Đường nhất...
Đã mấy lần mở miệng nhưng vẫn không biết nên đối mặt với nàng như thế nào, tay chân cũng bất giác trở nên luống cuống, cuối cùng hắn áp chế hàng vạn hàng nghìn suy nghĩ phức tạp trong đầu xuống, nhẹ vỗ vỗ lên lưng nàng, lấy lại thần sắc bình thản vốn có, cố ra vẻ không kiên nhẫn nói: "Đừng khóc nữa, ta vẫn chưa chết."
"Chưa chết sao không biết đến tìm ta!" Sở Kiều đẩy hắn ra, nước mắt vẫn rơi lã chã, "Cũng không biết gửi thư sao?"
Ở trước mặt hắn, nàng chưa từng rơi lệ cũng chưa từng luống cuống như hiện giờ. Trong thoáng chốc, mọi hiểm nguy gian khổ đều chợt tan biến như mây khói, vô số lần tìm được đường sống trong chỗ chết suốt hai năm qua cũng trở nên không đáng kể.
Gia Cát Nguyệt bá đạo đưa tay ra gọi nàng: "Lại đây."
Sở Kiều quẹt nước mắt trên mặt, lần đầu tiên trong đời không muốn chống lại hắn, cả người nhào vào lòng hắn, vừa khóc vừa mắng: "Đồ điên này!"
Băng qua khoảng cách muôn sông nghìn núi cùng oán thù quốc gia, vượt qua ngăn trở của sống chết, khi bỗng nhiên quay đầu lại, người nọ đang đứng giữa ánh đèn mông lung.
Chương 162: Còn sống thật tốt quá
Một đêm này Sở Kiều đã ngủ rất say, cả người như được ngâm trong nước ấm.
Trong lúc mơ màng, Sở Kiều như nhớ đến lúc còn ở chung ký túc xá sở tình báo với mấy người Tiểu Thi và Miêu Nhi. Sáng sớm có tuyết rơi nên nàng lười không muốn dậy. Tiểu Thi đưa bàn tay lạnh như băng vỗ vỗ lên mặt nàng ra hiệu đã đến lúc rời giường, nhưng nàng chỉ càu nhàu mấy tiếng rồi lại rúc vào trong chăn. Con nhóc Miêu Nhi xấu xa thấy vậy liền giật phăng chăn của nàng, sau đó đứng cạnh giường cười ha hả. Tiểu Hoàng thì đang ngồi trước bàn phấn, vừa trang điểm vừa bấm điện thoại gọi đồ ăn sáng.
Năm đó các nàng còn rất trẻ, ai cũng tươi tắn, tràn đầy sức sống như chú cá con vừa bơi ra đến biển lớn.
Ý thức dần quay lại, cảm nhận được trên mặt có khí lạnh, Sở Kiều chậm rãi mở mắt ra.
Nam nhân đang thong dong đứng trước mặt nàng, nhưng sắc mặt thì vô cùng quạu quọ, "Có biết đã là giờ nào rồi không?"
Trong một thoáng, Sở Kiều còn tưởng rằng mình hoa mắt, đầu óc vẫn còn lơ mơ chưa tỉnh ngủ nên mở to hai mắt nhìn hắn trân trân, đầu mày khẽ nhíu.
Dáng vẻ nghiêm túc kia của nàng khiến Gia Cát Nguyệt nuốt xuống mấy lời định nói. Hắn vừa xoay người định rời đi thì cảm giác vạt áo bị kéo căng, cúi đầu nhìn thì thấy một bàn tay nhỏ bé nắm chặt góc áo mình, dùng sức đến mức các đốt ngón tay đều trắng bệch.
Dần dần nhớ lại chuyện đêm qua, mặt Sở Kiều đột nhiên đỏ rực, nàng buông vạt áo hắn ra, ngồi bật dậy nhìn ra ngoài, nhất thời ngẩn ngơ, kinh ngạc hỏi: "Sao trời bên ngoài lại tối như vậy?"
Gia Cát Nguyệt phẫn nộ liếc nàng một cái rồi xoay người đi đến bên bàn thắp nến lên.
Còn dám hỏi hắn?
Tối hôm qua sau khi hai người chia tay, Gia Cát Nguyệt đã trở về chỗ của mình. Bởi vì lần này là âm thầm đến đây nên hắn không đến quan dịch mà chọn ngụ tại một trạch viện tư nhân. Hắn thức cả đêm không ngủ, chỉ một lòng chờ đến sáng ngày hôm sau, song đợi cả buổi mà chẳng thấy ai tìm đến cửa. Hắn ôm một bụng bực bội tự nhủ, không thèm đi tìm đấy, để xem ai đó có tới tìm mình trước hay không. Nhưng mãi đến khi mặt trời đã khuất núi mà trước cửa vẫn vắng tanh, hắn rốt cuộc không nhịn được, bỏ mặc tùy tùng một mình chạy đến đẩy cửa nhà nàng. Vừa vào phòng liền nhìn thấy nàng đang ôm gối say sưa trong mộng đẹp, còn hắn thì trằn trọc cả đêm, hỏi sao không muốn nổi điên?
Sở Kiều sao biết được tâm tư của ai đó, nàng dụi dụi mắt ngồi dậy, vuốt vuốt tóc rối trên trán, thần thái có hơi lúng túng, máy móc buột miệng hỏi: "Tới chi vậy?" Vừa dứt lời, trong phòng liền trở nên im ắng lạ thường.
Sở Kiều tự biết lỡ miệng, cúi đầu không lên tiếng.
Cả hai dường như cũng chẳng ai biết nên đối mặt ra sao với không khí ngượng ngập hiện tại, cũng không biết nên nói gì mới phải.
Trăng ngoài cửa sổ vừa tròn vừa sáng, phủ ánh bạc xuống khắp nơi khiến mặt đất như có một lớp tuyết mỏng mịn.
"Sao lại chạy đến Hiền Dương?" Gia Cát Nguyệt đột nhiên lên tiếng hỏi.
Sở Kiều hơi ngẩn ra, đáy lòng chợt có chút hoảng hốt. Những năm gần đây, nàng rất ít khi bối rối như thế này, dẫu phải đối mặt với đại quân đông nghìn nghịt của Đại Hạ thì nàng vẫn luôn hết sức trấn tĩnh. Nhưng khi đối mặt với hắn, sự bình thản thường lệ của nàng đều không cánh mà bay, trong lòng như có nai con nhảy loạn.
"Ta..." Sở Kiều ho khan một tiếng, ra vẻ thản nhiên nói: "Có chút chuyện phải làm."
"Ổn thỏa rồi?"
"Cũng... cũng gần xong."
"Thế bao giờ đi?"
"Một hai ngày nữa."
"Một hai ngày? Là ngày mai hay ngày kia?"
Sở Kiều đột nhiên quạu, sẵng giọng: "Ngày mai."
"Thế à?" Gia Cát Nguyệt gật đầu, ngồi xuống bàn rót nửa chén trà lạnh, nhưng chỉ cầm chén trà lắc lắc chứ không uống.
Sở Kiều nhướng mày nhìn hắn chằm chằm, hỏi: "Còn ngươi?"
"Ta? Ta thì sao?"
"Đến Hiền Dương làm gì? Bao giờ đi?"
Gia Cát Nguyệt cười nhạt, hai năm tôi luyện dường như đã khiến nam nhân này càng thêm gian xảo, hắn tỉnh rụi gật đầu đáp: "Tới du ngoạn, vài ngày nữa mới đi."
Dứt lời, hắn đứng dậy dợm bước ra ngoài, vừa đi vừa nói: "Nếu ngày mai phải đi rồi thì ta không quấy rầy nữa, nàng nghỉ ngơi cho tốt đi."
"Này!" Sở Kiều luống cuống đứng dậy, không tự chủ buột miệng kêu lên: "Đứng lại."
Gia Cát Nguyệt quay đầu lại, vô cùng bình tĩnh hỏi: "Còn chuyện gì sao?"
Người này nhất định là cố ý!
Đôi mắt đen to tròn của Sở Kiều nhìn Gia Cát Nguyệt chằm chằm, một hồi sau nàng hơi cúi đầu, nói giọng nhỏ như muỗi: "Thật ra thì ta cũng không phải vội đi cho lắm." Rồi như sợ ai đó hiểu lầm, vội vàng bồi thêm một câu: "Dù sao thì tạm thời cũng không có chuyện gì gấp phải về liền."
"Ra thế." Gia Cát Nguyệt gật gù, cầm lấy ngoại bào đưa cho Sở Kiều, ý tứ thâm sâu nở một nụ cười, "Mau rửa mặt, hôm nay là đêm Trung Nguyên, sẽ náo nhiệt hơn cả hôm qua."
Không rõ có phải thật như Gia Cát Nguyệt nói hay do tâm tình thay đổi mà Sở Kiều quả thực thấy phố xá đêm nay tấp nập hơn tối qua rất nhiều.
Hoa thơm nở rộ bốn phía, cây cành đong đưa, hai bên hồ thoang thoảng gió mát trong lành khiến tinh thần người đi dạo vô cùng sảng khoái, số nhóm tạp kỹ biễu diễn cũng nhiều hơn đêm qua. Trên đường gặp phải một đứa bé ăn mày, Sở Kiều mủi lòng móc ra mười lá vàng cho cậu. Cậu bé cầm lấy mà ngây người, nếu chi tiêu tiết kiệm thì số tiền này đủ cho một nhà bình thường sống đến hơn mười năm.
Gia Cát Nguyệt đi bên cạnh buột miệng cảm thán: "Ra tay thực hào phóng."
Sở Kiều quay lại trừng mắt với hắn một cái rồi giễu cợt: "Không giống mấy kẻ càng giàu càng keo kiệt, bổn cô nương vốn có lòng thương người."
Mặc dù biết rõ người trong lời nàng là chỉ mình, nhưng Gia Cát Nguyệt nghe nói lại thấy tâm tình khoan khoái.
Lòng thương người à? Như thế nào mới gọi là có lòng thương người?
Nam nhân có tính ganh đua nào đó thong thả tiến lên, thong thả móc ra một tấm ngân phiếu, trên ngân phiếu có đóng dấu của tiền trang tư nhân Thần Nguyệt, giấy trắng mực đen ghi rõ hai trăm lượng vàng.
"Chớ làm ăn mày nữa, mua một trang viên làm viên ngoại đi." Dứt lời thì nghênh ngang rời đi trong ánh mắt kinh hãi của Sở Kiều và đứa bé ăn mày.
Sở Kiều vội vã đuổi theo sau, nghi ngờ đánh giá hắn từ trên xuống dưới một lượt.
Gia Cát Nguyệt trừng mắt nhìn nàng, "Nhìn cái gì?"
"Không ngờ ngươi cũng có lúc lương tâm lên tiếng, sao hả, tiền nhiều quá nên ngứa tay à?"
Gia Cát Nguyệt khẽ hừ, "Chuyện nàng không ngờ còn nhiều lắm."
Đi thêm được hai bước, bụng Sở Kiều bắt đầu phát tiếng biểu tình, cũng khó trách, nàng đã không ăn gì cả ngày nay.
Gia Cát Nguyệt dường như rất thông thuộc nơi này, liệt kê một hơi tên mấy tửu lầu tiệm ăn nổi tiếng ở Hiền Dương. Chẳng ngờ Sở Kiều lại thuận chân tạt vào một quán nhỏ ven đường.
Nam nhân yêu cầu cao nào đó dĩ nhiên không tình nguyện, nhưng chưa kịp lên tiếng phản đối thì Sở Kiều đã ngồi xuống. Tiểu nhị ân cần chạy lại, nàng gọi một lèo hai bát mì hành*, nửa cân thịt bò, một đĩa lạc, gọi luôn một bình rượu có cái tên vô cùng thanh nhã là Lục Nguyệt Tây Sương do tiểu nhị giới thiệu.
Gia Cát Nguyệt kỳ quái liếc nàng, hỏi: "Chẳng phải không uống rượu sao?"
Động tác so đũa của Sở Kiều hơi khựng lại, ngay sau đó mỉm cười nói: "Trước kia sợ uống rượu sẽ làm hỏng việc, hiện giờ chỉ có một mình nhàn rỗi, không cần chú ý nhiều như vậy nữa."
Gia Cát Nguyệt nhướng mày, vươn tay lấy ly rượu bên tay nàng, trầm giọng nói: "Đừng uống."
Sở Kiều cũng không cố chấp, thẳng sống lưng lên, nhỏ giọng lầm bầm: "Bày đặt giả vờ."
Tiểu nhị nhanh chóng bưng thức ăn lên, chất rượu không được trong lắm, nếm thử thì thấy quả nhiên cũng không ngon lành gì, có lẽ đặt cái tên văn vẻ để lừa người ngoại đạo mà thôi. Thức ăn cũng vậy, rất bình thường, được cái khẩu phần rất rộng rãi. Sở Kiều đói meo đói mốc nhưng cũng chỉ ăn được nửa bát liền ăn hết nổi.
Hai người đứng dậy, nhìn thấy bên cạnh có một đám nhóc ăn mày mặt mũi lem luốc đang trông mong ngó chừng nửa bát mì còn dư, nước miếng cũng sắp nhễu ra.
Gia Cát Nguyệt quay lại ném cho chủ quán một nén bạc, nói: "Cho bọn chúng mỗi người một bát."
Chủ quán lập tức vui vẻ đáp ứng, Sở Kiều nghi ngờ nhìn hắn, hỏi: "Giả trang Bồ Tát thành nghiện luôn rồi à?"
Một bé trai khoảng mười hai mười ba tuổi thấy hai người bọn họ y phục sang quý, ra tay rộng rãi, bộ dáng thoạt nhìn cũng dễ nói chuyện thì tươi cười xán về phía Gia Cát Nguyệt, "Xin đại lão gia hào phóng thưởng cho ít rượu uống thử."
Gia Cát Nguyệt có chút hứng thú liếc cậu bé, quay đầu cho chủ quán thêm ít tiền rồi nói: "Cho nó một vò, không được pha thêm nước. Nếu nó uống không xong thì bữa cơm này coi như không phải do ta mời. Ngươi cứ trực tiếp đánh cho một trận rồi giải nó đi gặp quan."
Thằng bé biết có rượu uống thử thì hết sức phấn khởi, hớn hở đi theo chủ quán.
Sở Kiều chắc lưỡi, "Thằng bé còn nhỏ như vậy, làm sao uống hết một vò?"
"Không cho thử thì vĩnh viễn nó cũng không biết đó là cái gì." Gia Cát Nguyệt thản nhiên nói: "Ăn quả đắng một lần thì sau này mới nhớ lâu."
Sở Kiều nghe đáp thì hơi sửng sốt, bước chân lỡ mất một nhịp nên rơi lại phía sau hắn. Gia Cát Nguyệt đi hai bước không thấy nàng đi theo thì quay đầu lại, cau mày hỏi: "Đi thôi, còn nghĩ cái gì thế?"
Sở Kiều thoáng bần thần rồi vội vàng cất bước đuổi theo.
Ăn quả đắng một lần thì sau này mới nhớ lâu.
Gia Cát Nguyệt, ngươi đã bao nhiêu lần ăn quả đắng rồi? Vì sao vẫn không nhớ?
Đang suy nghĩ thì trên má đột nhiên truyền đến cảm giác rát bỏng, kèm theo đó là tiếng pháo nổ bụp ngay sát trên đỉnh đầu, Sở Kiều giật mình, đang định ngẩng lên nhìn thì cả người đã bị kéo mạnh sang một bên.
Gia Cát Nguyệt chỉ kéo một cái đã lưu loát ôm ai đó vào lòng, dưới chân cũng lùi lại mấy bước, hai mắt khẽ híp, mặt lộ vẻ tức giận, "Sao rồi? Có bị thương không?"
Sở Kiều ngẩng đầu lên nhìn, thì ra là tầng hai của tửu lâu bên đường vừa đốt pháo trúc mà không chú ý có người đi lại bên dưới hay không. Ngoài nàng ra thì có mấy người khác cũng bị vạ lây, đứng dưới lầu mắng mỏ om sòm, nhưng đều bị tiếng pháo lấn át.
Gia Cát Nguyệt kéo cánh tay đang ôm một bên mặt của Sở Kiều xuống, nhìn thấy phần da hơi đỏ hồng thì không khỏi sầm mặt.
"Không sao, cũng không đau." Sở Kiều không quen bị nhìn chăm chú như vậy, hơi dùng sức muốn rút bàn tay bị hắn nắm ra nhưng ai đó vẫn nắm chặt không suy suyển, mạnh đến nỗi nàng như có thể cảm nhận được vết chai trên lòng bàn tay nóng ấm của hắn.
"Thật sự không sao mà." Nàng lúng túng nói: "Không có bị thương."
"Nữ nhân coi trọng dung mạo của mình biết bao nhiêu, còn nàng thì lại không thèm để ý." Gia Cát Nguyệt không mặn không nhạt nói một câu, giọng điệu nghe thật muốn đánh nhưng Sở Kiều cũng biết được hắn là có ý tốt.
Có điều, nàng còn chưa kịp so đo thì lại nghe thấy hắn bồi thêm một câu, "Bất quá khuôn mặt này của nàng, có bị đốt hỏng thì cũng chả có gì khác biệt."
Sở Kiều sửng sốt, người này nói chưa được ba câu thì bệnh độc miệng lại tái phát rồi, thế là bắt đầu trả đũa, "Biết chỉ có ngươi là đẹp rồi."
Không ngờ Gia Cát Nguyệt lại làm vẻ mặt 'dĩ nhiên rồi', sau đó liền xoay người đi đến tửu lâu kia. Sở Kiều còn đang lo lắng không biết cái tên thù dai này có đi đánh nhau với người ta vì chuyện cỏn con này không thì lại thấy hắn quay trở về sau khi đứng ngó tửu lâu một hồi. Nàng tiến lên mấy bước, hỏi: "Ngươi qua đó làm gì vậy?"
"Ghi nhớ tên."
Sở Kiều chắc lưỡi, "Đúng là đồ dễ ghi thù!"
Gia Cát Nguyệt nhướng mày, "Nghĩ đi đâu vậy? Ta ngửi mùi rượu của tửu lâu này rất thơm nên chỉ định mai đến dùng cơm mà thôi."
Sở Kiều một bụng buồn bực, trước kia không phải thế này, sao bây giờ lần nào nói chuyện cũng là nàng ở thế hạ phong? Nàng cau có đi theo sau mà không nhìn thấy khóe mắt nam nhân phía trước chậm rãi dâng lên vẻ đắc ý.
Gió đêm thanh tĩnh, thỉnh thoảng có hàng rong hai bên đường tiến lên chào mời, thậm chí đi được vài đoạn lại có bé gái bán hoa chạy lại luôn miệng khen ngợi Sở Kiều xinh đẹp, thuyết phục Gia Cát Nguyệt mua hoa tặng vợ.
Gia Cát Nguyệt bình thản nhận hết mọi hiểu lầm, bình thản mua hết ba lẵng hoa rồi dúi cả cho Sở Kiều cầm, một mình hắn thoải mái đi lại ở phía trước, để Sở Kiều tay xách nách mang lò dò đi theo sau như một tiểu nha hoàn. Người trên phố đi ngang đều không khỏi liếc nhìn hai người một cái, dần dần mấy đứa bé bán hoa đều không tiếp cận bọn họ nữa. Thế là sau một hồi, Sở Kiều đã từ địa vị thê tử rớt xuống thành người hầu rồi. Thi thoảng có tiếng nghị luận của người xung quanh vọng vào tai nàng, "Xem kìa, vị công tử kia thật là tuấn tú, ngay cả nha hoàn tùy thân cũng xinh xắn như vậy."
Sở Kiều ảo não cau mày, nàng rất giống nha hoàn sao? Đã hơn mười năm rồi, sao vẫn còn như nha hoàn của hắn?
Bên hồ gió hơi mạnh hơn, hai người đi dọc theo bờ hồ, nơi này khá yên tĩnh, không có ai khác. Bước chân hai người càng lúc càng chậm nhưng không ai mở miệng nói tiếng nào, tựa như không đành lòng phá tan không khí thanh tĩnh khó có được này. Từ tối qua đến giờ, bọn họ không ai đề cập đến chuyện của hai năm vừa qua. Vận mạng đột nhiên để bọn họ trùng phùng tại đây, cách xa Đại Hạ, cách xa Bắc Yến, không có quyền mưu tranh đấu, không có ngươi lừa ta gạt, được bao bọc bởi cuộc sống bình yên an nhàn của người dân nơi này, ngay cả không khí như cũng trong lành hơn nơi khác, tinh thần hai người như được thả lỏng, không ai muốn nhắc đến những chuyện máu tanh mưu mô kia cả.
Trên mặt hồ thoang thoảng gió nhẹ khiến bóng trăng khẽ lung lay rồi vỡ ra thành từng mảnh nhỏ.
Bất tri bất giác, hai người đã đi đến dưới gốc cổ thụ kia. Gia Cát Nguyệt không tự chủ dừng bước, ngước lên nhìn tán cây xòe rộng, thời gian hai năm dần dần lướt qua trong đầu, cuối cùng đọng lại trong khoảnh khắc này.
Sở Kiều nhìn bóng dáng cao lớn tuấn tú trước mặt, cảm thấy vẻ cao ngạo lạnh lùng đầu mày vốn có của hắn đã biến mất, thay vào đó là sự bình thản thong dong, thế nhưng nhìn kỹ lại thì vẫn có thể nhận ra chút tang thương ẩn hiện nơi đáy mắt.
Thoát khỏi tuyệt cảnh, bị đất nước quay lưng, bị gia tộc vứt bỏ, bất đắc dĩ thân mang tiếng xấu, chỉ trong hai năm xây dựng được cơ nghiệp đồ sộ, có thể nào chỉ gói gọn trong một câu 'Ta vẫn chưa chết' như vậy?
Mấy hôm nay, nàng cũng dần dần được nghe kể lại hết chuyện ngày đó.
Sau khi Sở Kiều theo Lý Sách đến Biện Đường, Đại Hạ từng bảy lần gửi thư yêu cầu Lý Sách giao nàng ra. Yến Tuân cũng mài đao soàn soạt lĩnh binh đến Biện Đường, ở biên cảnh Tây Bắc giáp với Biện Đường đã đánh hết mấy trận. Cuối cùng Ngụy Quang tự mình ra mặt, dẫn Tây Nam quân mới thành lập đến Biện Đường gây áp lực cho Lý Sách. Cho dù khắp thiên hạ ai cũng biết Đại Hạ hiện tại không dám chính thức động binh với Biện Đường, nhưng nội bộ triều đình Biện Đường lại hết sức bất mãn với hành động này của Lý Sách, thậm chí có người còn mấy lần định xông vào cung bắt ả họa thủy là Sở Kiều đem giao nộp cho rảnh nợ.
Khi đó Lý Sách tuy có thể cứng rắn bảo vệ Sở Kiều, nhưng lại tuyệt không thể bảo hộ Tú lệ quân, trừ phi Biện Đường muốn quyết liệt ra mặt với Đại Hạ.
Ngay lúc ấy, Thanh Hải vương ở ngoại cảnh đại lục lại đột nhiên tiếp cận biên giới Đại Hạ, phái sứ giả đi thông báo xin dâng lãnh thổ tám nghìn dặm của mình sáp nhập vào bản đồ Đại Hạ. Đến đây, người tài trong thiên hạ mới biết được, thì ra Thanh Hải vương danh chấn đại lục chính là Tứ thiếu gia của Gia Cát gia đã bỏ mình ở Bắc Yến hai năm trước – Gia Cát Nguyệt.
Chuyện sau đó liền dễ đoán, Gia Cát Nguyệt trở lại đế đô, bằng thế lực quân sự mạnh mẽ của mình và sự ủng hộ của Gia Cát gia dễ dàng áp đảo Ngụy Quang, thay thế vị trí đứng đầu hội trưởng lão của ông ta, trở thành tân Đại Tư Mã của Đại Hạ rồi thản nhiên dẹp sách lược áp lực với Biện Đường sang một bên.
Sở Kiều thật sự không muốn nghĩ xem bên dưới đề tài buôn chuyện đầu phố này đã ẩn chứa bao nhiêu gió tanh mưa máu. Hai người bọn họ đều là người sống sót từ trong biển máu, biết được biển này nông sâu thế nào, ngoài mặt nhìn gió êm sóng lặng nhưng bên dưới kịch liệt sóng gió ra sao.
Mặt hồ đầy những ngọn hoa đăng sắp tắt đang cố cháy bùng lên lần cuối, Sở Kiều ngẩng đầu lên nhìn Gia Cát Nguyệt, đáy mắt thoáng ẩn hiện vẻ chua xót, trầm giọng nói: "Nghe nói mỗi gốc tùng đều có thần linh cư ngụ, cây có tuổi thọ càng cao thì càng hiển linh, chỉ cần dâng tặng vật tùy thân mình quý nhất thì có thể cầu phúc cho người nhà, xin cho bằng hữu được bình an, không biết có phải đúng như vậy hay không."
Gia Cát Nguyệt vẫn lẳng lặng đứng yên, không nói gì.
"Ngươi có tin không?" Sở Kiều thấp giọng hỏi.
Gia Cát Nguyệt chậm rãi nheo mắt lại, từ tốn nói: "Không tin."
Sở Kiều nhìn hắn, khẽ nhếch môi mỉm một nụ cười không rõ là vui hay buồn. Không tin thật à?
Nàng giơ tay lên, năm ngón tay dài trắng nõn chậm rãi mở ra, ánh mắt chợt lấp lánh như sao trời, khóe môi hơi cong lên, nhẹ giọng hỏi: "Thật sự không tin sao?"
Gia Cát Nguyệt cúi đầu, vừa liếc qua liền nhìn thấy hai khối ngọc bội trắng muốt kia, năm tháng trong quá khứ lại xẹt qua trong đầu khiến cả người hắn như bị đóng đinh ngay tại chỗ.
"Gia Cát Nguyệt, ta vốn cho rằng đã không còn cơ hội nữa." Sở Kiều cười dịu dàng, hai mắt cong cong, khóe mắt như có lệ vương, cánh môi hơi run run, "Ta vốn cho rằng cả đời này không còn cơ hội hoàn trả ân tình cho ngươi nữa."
Trong bóng đêm thâm trầm, bóng dáng Gia Cát Nguyệt đột nhiên tỏa ra áp lực khiến người khác hít thở không thông. Hắn nhìn nàng một cách chăm chú, đôi con ngươi đen nhánh trở nên sâu không lường được. Không nói một lời, hắn cứ như vậy nhìn nàng, tựa như muốn xuyên qua nàng tìm tòi cái gì đó.
Rồi đột nhiên, hắn nặng nề thở ra một cái thật dài, đưa hai tay nắm lấy hai đầu vai nàng, lẳng lặng buông ra một câu: "Ai cần nàng trả?"
Nước mắt Sở Kiều rốt cuộc cũng trào ra, nàng rúc vào trong ngực hắn, trong đầu có vô vàn lời không biết phải nói thế nào. Sở Kiều lặng lẽ nhắm mắt lại, cảm nhận mùi hương quen thuộc trên người hắn mơ hồ quanh quẩn ở đầu chóp mũi, ấm áp dịu dàng bao phủ toàn thân nàng. Gió đêm lãng đãng phả lên người bọn họ, xa xa là tiếng người huyên náo, lần đầu tiên trong đời, Sở Kiều cảm thấy bầu không khí vui vẻ kia lại gần mình như vậy, gần như trong gang tấc, chỉ cần hít thở là có thể cảm nhận được.
"Gia Cát Nguyệt," Sở Kiều đột nhiên ngẩng đầu lên, cong môi cười với hắn mà mặt vẫn chan hòa nước mắt, "Còn sống thật tốt quá."
Gia Cát Nguyệt nghe thấy thì thoáng xót xa, trên đời này không còn ai có thể hiểu rõ bốn chữ này hơn hai người bọn họ nữa. Hắn dịu dàng cúi đầu hôn lên trán nàng, thì thầm lặp lại: "Ừm, cảm giác còn sống thật tốt."
Xa xa thấp thoáng ánh đèn, năm mới đã rất gần, thành Hiền Dương năm nay, tất cả như vừa được đổi mới.
Chương 163: Giấc mộng kê vàng*
*Trích từ điển cố trong truyện "Chẩm Trung Ký" thời Đường kể chuyện một chàng trai gặp một đạo sĩ trong một quán trọ. Đạo sĩ cho chàng trai một chiếc gối bảo ngủ đi. Bấy giờ chủ quán đang nấu một nồi cơm kê vàng, chàng trai nằm mộng thấy mình được làm quan, hưởng phú quý, nhưng khi tỉnh dậy, cơm kê vàng vẫn chưa chín, sau ví với sự vỡ mộng.
Đầu tháng giêng là dạ yến mừng xuân, điện Tử Tiêu rợp trong ánh đèn, sơn hào hải vị bày khắp nơi, vạt váy của vũ cơ tung bay như mây.
Triệu Dương mặc y phục gấm đen tuyền thêu hình rồng bằng chỉ vàng, vạt áo còn ẩn hiện hoa văn nhật nguyệt bằng chỉ ngũ sắc, đầu đội cao quan* bằng vàng có chín tua ngọc, tư thái oai hùng, mày kiếm dài tận tóc mai, mỉm cười ngồi ở vị trí cao nhất bên trái đế vị, ung dung khoản đãi văn võ bá quan cả triều.
*Cao quan có chín tua ngọc
Hôm nay chính là xuân yến của Đại Hạ. Cho dù bên ngoài trời đông giá rét tràn ngập bão tuyết, chiến sự ở Tây Bắc vẫn còn tiếp diễn, dị tộc ở Đông Bắc lại có động thái đòi độc lập, mùa màng thất thu, lũ lụt khắp nơi, văn võ trên triều không ngừng ngấm ngầm công kích nhau, thì sự xa hoa ở triều đình Đại Hạ vẫn không suy giảm, đèn đuốc vẫn sáng choang, rượu ngon thịt thơm vẫn tràn ngập, mỹ nhân yến anh vẫn dập dìu. Thủ lĩnh các đại khu ở Bạch Chỉ, Tây Liêu, Triều Qua, Diêu Huyện, Bắc Hải, Đông Kim, cùng với phiên vương các nơi, tướng soái trong triều, gia chủ các thế gia, nhân ngày lễ, vua thần tụ tập ở một nơi tạo ra khung cảnh 'mưa thuận gió hòa'.
Hôm nay không ai muốn đề cập đến chuyện chiến sự đáng phiền cùng đấu tranh mưu quyền kia, rượu vào thì gan cũng to ra, kẻ địch ngày thường cũng bá cổ quàng vai ngồi với nhau, vui đùa mỹ nhân như hoa như ngọc trong lòng, đội vũ cơ trên đại điện ra sức ca múa vũ khúc mừng thái bình. Văn võ quý tộc thỉnh thoảng lại quay về phía vương vị giơ cao ly rượu, không phải kính chủ vị mà là kính vị Thập tứ hoàng tử còn trẻ mà đã cầm trọng quyền kia.
Nếu ba năm trước đây, có lẽ không ai ngờ sẽ có một ngày như thế này, kể cả lão cáo già tự cho bản thân có ánh mắt sắc bén là Ngụy Quang cũng không ngờ được, thiếu niên khi xưa còn vẫy vùng trong vũng bùn chỉ trong ba năm ngắn ngủi đã một bước lên trời, đường hoàng ngồi lên vị trí này.
Nhưng cũng khó trách, hiện tại hoàng thất Đại Hạ tàn lụi, Triệu Tề và Triệu Giác đã chết, Triệu Triệt bị lưu đày, Triệu Tung trở thành người tàn phế, duy chỉ còn lại vị Thập tứ hoàng tử này có thể gánh vác giang sơn Đại Hạ, cho nên cả Ngụy phiệt cũng đành quỳ gối dưới chân Triệu Dương, toàn tâm toàn ý phụ tá hắn thượng vị.
Thủ lĩnh Triều Qua tiến lên mời rượu Triệu Dương đang ngồi trên cao, Triệu Dương lạnh nhạt nâng chén, khẽ gật đầu rồi uống cạn chén. Gã tướng lĩnh trấn giữ Triều Qua lại huyên thuyên bày tỏ kính ý và lòng trung một hồi, cuối cùng nhận được một cái gật đầu nhẹ bâng của Triệu Dương mới hớn hở quay về chỗ ngồi.
Trong ánh nến lung linh, một đám vũ cơ mới bước lên đại điện, tay áo giơ cao, vòng eo mềm mại uyển chuyển như rắn, nhất thời thu hút sự chú ý của đám đông.
Triệu Dương âm thầm cong khóe môi nở một nụ cười rất nhạt, không dễ nhận ra.
Hắn còn nhớ rất rõ gã tướng kia, bốn năm trước, cũng ngay trên đại điện này, khi đó bởi vì địa vị thấp, hắn được sắp ngồi phía dưới, trên đường đi mời rượu Triệu Tề, gã tướng kia đã bất cẩn giẫm lên áo choàng của hắn khiến rượu trong chén sánh ra ngoài, bắn đầy người hắn. Nhưng gã tướng kia cũng chỉ nhướng mày nhìn hắn, sau đó khinh thường hừ lạnh một tiếng rồi phủi tay bỏ đi.
Sau bốn năm, thái độ của gã tướng này lại thay đổi nhiều như vậy, vô cùng lễ độ và khách khí.
Đúng là nhân sinh thay đổi, người xung quanh cũng thay đổi theo.
Triệu Dương hơi quay đầu, liếc khóe mắt về phía vương vị thoáng ẩn thoáng hiện trong ánh nến kia. Hắn nhìn hồi lâu, thần sắc dần dần trở nên mông lung, hiện tại hắn đang ngồi ở đây, tầm mắt bao quát cả đại điện, tiếng ca tụng tràn ngập bên tai, đột nhiên cảm thấy, vị trí từng cách hắn rất xa lại gần như vậy, chỉ giơ tay là có thể chạm đến. Nhưng khi điệu vũ vừa ngừng, hắn lại quyết đoán quay đầu đi, vẻ mông lung trên mặt tan biến, lấy lại thần sắc khi nãy.
Ánh trăng bên ngoài rải lên thềm cửa đại điện, gió nhẹ thổi khiến góc rèm lụa đung đưa, một thị vệ đột nhiên khịt khịt mũi, quay sang hỏi thị vệ bên cạnh: "Sao tự nhiên lại có mùi khói nhỉ?"
Thị vệ kia cũng hít hít mấy cái, nhưng lại lắc đầu, "Ngươi bị ảo giác à?"
"Nhầm rồi sao?" Thị vệ không dám thắc mắc nữa, nơi này là nội viện hoàng gia, lại đang có xuân yến, ai dám cả gan đốt lửa ở gần đây chứ?
Ánh trăng xuyên qua đại điện, theo gió luồn vào cửa cung thâm sâu, tổ miếu quanh năm bị khóa hiện đang bốc lên một cột khói, tro nhang đốt để tiễn năm cũ vừa bị cuốn lên cao liền bị gió lạnh xé tan thành từng mảnh nhỏ.
Sâu trong đại điện mờ tối, đế vị đúc bằng bảo thạch cẩn minh châu lấp lánh, tựa như xua tan vẻ tĩnh mịch chết chóc, thế nhưng lại không ngăn được tầng tro bụi vất vưởng như oan hồn bất tán xung quanh.
Người hiện giờ vốn nên có mặt trên điện Tử Tiêu, hoàng đế Triệu Chính Đức lại đang ngồi một mình trong tổ miếu vắng lặng, đối điện ông là một linh đường nguy nga lộng lẫy, trên linh đường bày chi chít linh vị, cao đến tận nóc, như muôn vàn đôi mắt đang lẳng lặng nhìn ông. Năm tháng trôi qua, gió lạnh luồn qua linh vị, phát ra âm thanh u u như tiếng nói từ hoàng tuyền.
Một tiếng *keng* giòn tan đột nhiên vang lên phá vỡ sự im lặng trong điện, cái chén lưu ly trong tay hoàng đế vừa rơi xuống trên mặt đất, vỡ vụn thành bảy tám mảnh, chất rượu nho đỏ tươi chảy tràn ra, tỏa ra hương thơm ngọt ngào.
Âm thanh đó đã đánh thức vị hoàng đế đang dựa vào ghế ngủ say, ông mơ hồ mở mắt ra, khóe môi nhăn nheo mỉm một nụ cười rồi nhẹ giọng nói: "Lại đến quấy trẫm nữa rồi."
Ngữ khí rất dịu dàng, thậm chí còn mang theo ý cười, nhưng ở trong hoàn cảnh hiện tại lại vô cùng quỷ dị và lạnh lẽo. Tiểu thái giám khẽ run một cái, cẩn thận liếc mắt nhìn vào bên trong, nhưng liền bị lão thái giám đạp mạnh một cước, "Cút ra ngoài đi."
Tiểu thái giám vội vàng quỳ sụp xuống, sợ đến mức không dám thở mạnh, sau đó lập tức bò ra ngoài.
Lão thái giám bưng bình rượu lên, chậm rãi đi đến cạnh vương vị rót đầy một chén khác cho hoàng đế, dùng giọng nhỏ nhẹ đặc trưng của thái giám nói: "Hoàng thượng, hoàng hậu nương nương lại đến đùa với ngài nữa sao?"
"Ừ." Hoàng đế quay đầu lại cười nói: "Ngươi cũng biết rồi đấy, nàng là chúa thích quậy phá, tính tình tùy hứng như vậy, làm gì có chút phong phạm mẫu nghi chứ?"
Lão thái giám cũng không cười, chỉ đều giọng trả lời: "Hoàng thượng nói vậy, để hoàng hậu nương nương nghe được lại giận dỗi đấy."
Hoàng đế cười to, sau đó đổi tư thế ngồi thoải mái hơn, tựa lưng vào long ỷ to rộng, nhẹ nhàng nói: "Ta đi xem nàng có dỗi không." Nói xong lại nhắm mắt lại.
Mấy năm nay hoàng cung không ngừng có thay đổi lớn, Mục Hợp hoàng hậu đã qua đời từ lâu nhưng hậu vị vẫn còn để trống, mà trước Mục Hợp hoàng hậu, hoàng đế từng sắc phong mấy vị khác, cũng chẳng rõ 'nàng' trong lời ông là chỉ ai.
Lão thái giám cúi đầu, mặc kệ mảnh chén vỡ đầy đất mà chỉ nhặt một cọng cỏ rất nhỏ bị lẫn trong rượu lên, cẩn thận bỏ vào một chiếc hộp bằng vàng rồi lui vào đứng trong góc, sắc áo đen tuyền như hòa làm một với bóng đêm.
Giờ lành đã đến, chúng cung nhân lũ lượt xuyên qua cửa cung lần lượt thắp sáng toàn bộ nến trong cung, thoáng cái đã xóa tan vẻ tăm tối tịch mịch của thâm cung, khiến tòa cung điện trở nên rực rỡ như một viên minh châu. Tiếng cười nói náo nhiệt cùng tiếng chúc tụng hoàng đế lan truyền như sóng biển, hòa tan trong tiếng chuông ngân nga, hàng nghìn bá quan văn võ xếp thành hàng dài, từ bên trong điện Tử Tiêu kéo ra tận cổng cung, câu tung hô 'vạn thọ vô cương' chấn động cả bầu trời hoàng thành. Có bóng chim đen đột nhiên xẹt qua, một thị vệ trẻ tuổi vô tâm buột miệng kêu 'quạ đen kìa', liền lập tức bị trưởng thị vệ bên cạnh đá một cước, "Đồ ngu! Đó là hỉ thước*!"
*Hỉ thước = chim khách, người xưa cho rằng chim khách báo tin vui
Thành Chân Hoàng hôm đó vừa nổi bão tuyết mịt mù, trong mơ màng, hoàng đế khẽ nhíu mày, nhẹ giọng nói: "An Phúc, ai ầm ĩ bên ngoài vậy, bảo bọn họ nhỏ tiếng một chút."
Lão thái giám đứng trong tối nhỏ giọng đáp: "Hoàng thượng, đó là chúng đại thần ở điện Tử Tiêu thỉnh an ngài đấy."
"Thỉnh an phụ hoàng à?" Hoàng đế như đã uống say, lẩm bẩm, "Nói với Thế Thành, tan tiệc thì chờ ta một lát."
Lão thái giám gật đầu, "Dạ."
Đó là chuyện rất nhiều năm trước, cụ thể là bao nhiêu năm thì cả hoàng đế cũng đã quên.
Năm đó hoàng đế còn chưa phải là hoàng đế, chỉ là một vị hoàng tử không được sủng ái, có mẹ là một mỹ nhân từ Thanh Khâu đưa đến. Sau hai lần sinh nở, mỹ nhân kia dường như liền bị trượng phu quên lãng, ông và mẫu thân cùng nhau lặng lẽ sống qua ngày, tự sinh tự diệt không ai buồn để tâm, cho nên phụ hoàng thậm chí còn quên mất việc ban tên chữ cho ông.
Đến khi ông được bảy tuổi, cần phải nhập học thì hoàng gia mới rốt cuộc nhớ tới sự hiện hữu của ông. Ông nhớ rõ, lúc tổng quản thái giám đến báo cho phụ hoàng, phụ hoàng đang ngủ trưa trong tẩm cung với Hoa phi, người được sủng ái nhất bấy giờ, ông và mẫu thân cũng chỉ có thể quỳ trên sàn đá lạnh như băng trong điện chờ, quỳ gần hai tiếng phụ hoàng mới tỉnh lại. Phụ hoàng nằm trong vòng tay trắng như tuyết, mịn như ngọc của Hoa phi, hơi nhíu mày nhìn đôi mẫu tử xa lạ bên ngoài màn lụa tựa như đang cố hồi tưởng đến dáng vẻ của bọn họ, cuối cùng chỉ mỉm cười buông một câu: "Cứ dùng một chữ 'Húc*' đi."
*Húc (煦) có nghĩa là ấm áp
Mẫu thân qua đời, sáng sớm ngày thứ hai phát hiện thì thân thể đã cứng ngắc. Ông mặc chiếc áo mỏng manh đứng ở hành lang nhìn mẫu thân bị cuốn trong một tấm vải trắng mang ra ngoài, gió buổi sáng hơi lạnh, tốc tấm vải lên để lộ vầng trán của mẫu thân, trắng bệch như giấy tuyên thành thượng hạng.
Ông quay đầu đi, nước mắt lăn dài trên khuôn mặt nhỏ bé, chảy xuống cổ lành lạnh. Ông vội vàng lau nước mắt, mẫu thân tuy có công sinh thành nhưng bởi vì thân phận thấp kém nên không có phân vị, không được tính là mẫu phi của ông, trên gia phả hoàng thất, mẫu phi của ông chính là hoàng hậu ở cung Chiêu Dương, không phải người phụ nữ vừa chết kia, ông không được đau lòng.
Sau đó ông được dẫn đến cung Chiêu Dương, ba con trai của hoàng hậu đều đã xuất cung lập phủ riêng rồi nên ông mới có cơ hội được hoàng hậu nuôi dưỡng. Đám cung nhân trước kia coi thường ông đều ríu rít chúc mừng, nói cái gì đã sớm nhìn ra điện hạ là rồng trong biển người, đại phú đại quý, hiện tại đến lúc lột xác lên trời, thật sự là một chuyện mừng, phải vui vẻ lên.
Trong tiếng chúc mừng của mọi người, trên điện Phượng Minh của cung Chiêu Dương, ông chân thành dập đầu. Khi đó, ông nghĩ, mẫu thân đã chết rồi, được hoàng hậu mang về nuôi là một chuyện đáng mừng, sau đó ông liền nở nụ cười, cười mà nước mắt chảy ướt cả mặt.
Hoàng hậu nhướng mày nhìn ông một lúc rồi trầm giọng bảo mau dẫn xuống, sau này không có chuyện thì không cần ngày ngày tới thỉnh an, hoàng hậu không thích nụ cười của ông.
Xế chiều ngày đó, ông gặp được Thế Thành, con trai của Nhị hoàng thúc là Bắc Yến vương. Khi đó Bắc Yến vương chưa đổi họ Yến, vẫn còn là họ Triệu, chỉ là luôn ở tại đất phong Bắc Yến mà thôi. Thế Thành nhìn thấy ông, lập tức vui vẻ chạy tới nói to: "Đệ cũng từng uống sữa của Thư Hòa mỹ nhân đấy."
Sau hôm đó, Thế Thành liền cả ngày theo quấy nhiễu ông, bất kể là ăn cơm hay ngủ nghê đều chạy theo sau lưng ông, ai dám tỏ sắc mặt với ông liền bị Thế Thành xô ngã. Năm đó tiểu tử kia tuy ít tuổi nhưng sức lực lại không nhỏ, ngay cả một đại hán cao to giữ thành do hoàng huynh bố trí cũng bị tiểu tử kia đẩy ngã nhào. Từ đó về sau, không thấy ai trêu chọc Cửu hoàng tử nữa.
Nhưng ông vẫn cảm thấy tiểu tử kia rất phiền, ông không thích nụ cười trên mặt hắn, cảm thấy nụ cười đó quá giả tạo, không giống như đám người trong cung, cười rất nhạt, rất lạnh lẽo, còn nụ cười của Thế Thành thì quá trong trẻo, ông không nhìn được chút âm u nào. Ông luôn tự nói với bản thân, tiểu tử này quá giảo hoạt, che giấu tài tình thật, cần tránh xa.
Có một lần bị theo đuổi đến phiền, ông liền nói với hắn, tối gặp ở hầm băng, không gặp không về. Thế Thành vui vẻ vỗ ngực nói đại trượng phu Bắc Yến không nuốt lời, còn định cắt máu ăn thề, may mà bị ông kịp thời cản lại. Ông cũng chẳng đau giùm hắn gì đó, chẳng qua thân là hoàng tử, tự làm bản thân bị thương sẽ bị phạt.
Kết quả ngày thứ hai, quả nhiên không thấy Thế Thành lộ diện. Bắc Yến thế tử mất tích, cả hoàng cung như phát điên, ai cũng đổ xô đi tìm, gần như lật tung từng tấc đất, kinh động đến cả hoàng hậu cùng phụ hàng. Đám thị vệ cả ngày chạy ngược chạy xuôi, tiếng chân rầm rập như đòi mạng từng bước bóp chặt tim ông.
Ông cực kỳ sợ hãi, ông biết Thế Thành ở đâu nhưng lại không dám nói. Ở trong hầm băng một ngày một đêm, nhất định đã sớm bị đông chết, ông cũng sợ, sợ Thế Thành còn sống, nếu người khác biết được Thế Thành chạy đến hầm băng là do ông xui, ông sẽ gặp đại họa.
Tối hôm đó, cuối cùng có cung nữ đi lấy băng phát hiện Yến thế tử bị đông cứng trong hầm băng, chúng thái y lũ lượt qua cửa, than thở Bắc Yến thế tử e không ổn rồi, mau báo cho Bắc Yến vương.
Lúc ấy, ông nấp sau cột đại điện, lặng lẽ cầu khẩn: Mau... mau chết đi. Đừng sống lại.
Nhưng Thế Thành vẫn qua khỏi, hơn một tháng sau liền hoàn toàn hồi phục. Bắc Yến vương biết chuyện còn cười lớn, nói khí hậu ở Bắc Yến băng hàn, Thế Thành từ nhỏ đã chơi đùa trong nước tuyết cả canh giờ liền, chút lạnh lẽo đó vẫn có thể chịu được.
Một tháng đó ông luôn sống trong sợ hãi, ngày nào cũng gặp ác mộng làm cho giật mình tỉnh giấc lúc nửa đêm, sợ sẽ bất tri bất giác chết đi giống như người phụ nữ đã sinh ra ông, sau đó bị quấn vải trắng mang ra khỏi cung.
Nhưng sau khi bình phục, Thế Thành lại lén đến tìm ông, trừng mắt hỏi: "Hôm đó huynh bị gì vậy? Tại sao không đến?"
Lúc ấy, ông đã sửng sốt, vô vàn lý do chắp vá nghĩ suốt nhiều ngày đều tan biến, đầu óc trống rỗng, một chữ cũng nghĩ không ra, ông ấp úng hồi lâu, cuối cùng chỉ thấp giọng nói một câu: Ta quên mất.
Thế Thành cười ha ha, nói hắn cũng biết ông không cố ý, nói xong liền như chợt nhớ ra cái gì, vội vã thấp giọng dặn ông tuyệt đối không để người khác biết, bằng không ông sẽ gặp họa.
Khi đó Thế Thành mới bảy tuổi, hiếu động như một chú nghé con vùng Tây Bắc, đôi mắt trong trẻo luôn mở to, kiễng chân mới đứng đến tai ông.
Hơn nhiều năm sau, ông có hỏi Thế Thành, chẳng lẽ chưa từng giận, chưa từng nghi ngờ ông sao?
Yến Thế Thành khi ấy đã là một thiếu niên, kỳ quái nhìn ông một cái, nhướng mày hỏi lại: "Đệ sao lại nghi ngờ Húc ca? Chúng ta là cùng uống sữa của một người mà lớn lên đấy."
Đúng vậy, Thế Thành được sinh ra ở kinh thành, Yến vương phi không đủ sữa, đúng lúc Thư Hòa mỹ nhân, mẫu thân hắn lần thứ hai hạ sinh ra một bào thai chết. Vì vậy Thế Thành liền được ôm sang chỗ Thư Hòa mỹ nhân cho bú, có điều cũng chỉ có mấy ngày mà thôi.
Năm tháng trôi qua, bọn họ như một một mầm cây gặp gió liền lớn, chớp mắt đã trở thành nam tử cường tráng. Trời sáng hai người liền cùng nhau tập võ, cùng nhau cưỡi ngựa, cùng nhau bắn tên, cùng nhau diễn tập binh pháp, cùng nhau nhập ngũ, như hình với bóng. Tâm tình của ông cũng dần tươi sáng hơn, thỉnh thoảng còn có thể cùng với Mông Điền trêu ghẹo cung nhân một hai câu. Mãi đến năm đó, khi theo hoàng thúc xuôi Nam, trong khung cảnh nước non hữu tình, ông gặp được một người đã thay đổi cuộc đời bọn họ. Số mạng như một dòng nước chảy xiết, một khi rơi vào dòng chảy sẽ không có lối thoát.
Đến nay ông vẫn còn nhớ rất rõ, ngày ấy, ông, Thế Thành và Mông Điền lén rời khỏi dịch quán đi thăm thú thắng cảnh. Hôm đó trời xanh trong vời vợi, thời tiết vô cùng đẹp, mặt trời trên cao thong thả tỏa nắng ấm xuống vạn vật, thiếu nữ chống mái chèo đứng ở mui thuyền, y phục xanh nhạt như hòa làm một với nền trời, dung nhan xinh đẹp, hai mắt long lanh như châu ngọc thượng hạng. Nàng chân trần đứng đó, ống quần xắn cao để lộ một đoạn bắp chân trắng muốt, cười ngoắc ngoắc ba người bọn họ, nói giọng trong trẻo như tiếng chuông bạc: "Này! Ba anh cao to, cần đi thuyền không?"
Đã nhiều năm như vậy, lâu đến mức ông cho rằng mình quên gần hết rồi, quên thời gian, quên địa điểm, quên nụ cười cùng dung nhan năm đó, nhưng vĩnh viễn cũng không thể quên giọng nói kia. Ông nhìn thiếu nữ thong thả chèo thuyền đến gần, khẩn trương đến mức lòng bàn tay cũng rịn mồ hôi, muốn nói gì đó nhưng mở miệng không ra.
Ngay sau đó liền nghe Thế Thành bên cạnh cười to, "Này, tiểu nha đầu, thuyền nhỏ như vậy chở nổi cả ba người chúng ta sao?"
Chuyện ngày đó như một tảng đá to bị ném vào trong dòng thời gian, kích lên vô số gợn sóng trắng xóa. Có lẽ, có rất nhiều chuyện vừa bắt đầu đã mang kết cục được định sẵn từ trước.
Chiến sự nổ ra, ông rốt cuộc bị buộc bước lên con đường sinh tử. Trên con đường đó, ông khó khăn đi từng bước một, người cản đường ông đã chết, người bảo vệ ông cũng đã chết, có người tay không tấc sắt, không còn gì để làm nhưng cũng lao mình vào vòng xoáy, cuối cùng đều chết hết trong chiến loạn.
Chỉ có Thế Thành vẫn một mực dẫn dắt quân Bắc Yến đi theo sau ông. Cho đến giờ, mỗi khi nhắm mắt lại, bên tai ông như vẫn có thể nghe được giọng nói trẻ tuổi của cậu thiếu niên:
Húc ca, đệ đến rồi!
Húc ca, không việc gì phải sợ bọn chúng, cùng lắm thì đồng quy vu tận.
Húc ca, bất luận ra sao thì huynh cũng phải sống, huynh sống thì mới có thể báo thù cho các huynh đệ đã ngã xuống.
Húc ca, làm đế vương phải vì dân vì thiện, chỉ cần huynh nhớ những lời này, đệ chết cũng đáng.
Húc ca, ai dám bất trung với huynh, đệ sẽ chém hắn!
Húc ca, Húc ca, Húc ca...
Đám đông như biển quỳ lạy ở trước mặt ông, hô vang 'vạn tuế', ông mặc long bào vàng rực, đi từng bước lên tổ miếu nhận vương vị Đại Hạ. Chỗ ngồi của hậu viện, nhét bên trong bộ phượng bào dành cho Thái hậu chỉ có một khối ngọc bội, đó chính là di vật của mẫu thân, khối ngọc nhỏ xíu, nhỏ như phần dũng khí ít ỏi năm đó của ông vậy.
Trong đại điện tranh tối tranh sáng, gió thiu thiu thổi, hoàng đế cảm thấy hơi lạnh, chậm rãi mở mắt ra.
Lão thái giám từ phía sau đi đến phủ thêm áo choàng nhưng ông lại hờn dỗi ném nó xuống đất, nhướng mày hỏi: "Sao tên tiểu tử Yến Tuân kia còn chưa đánh tới đây vậy?"
Lão thái giám cũng không kinh sợ khi nghe hỏi, chỉ nhẹ giọng nói: "Hoàng thượng, Bắc Yến vương hiện giờ vẫn còn đang ở bên ngoài Nhạn Minh Quan."
"Đúng là vô dụng, nếu là Thế Thành thì đã công phá cửa khẩu từ lâu rồi. Thanh niên bây giờ đúng là chẳng có mấy người dùng được." Hoàng đế lắc đầu đứng dậy, lộ dáng vẻ rất chi là tiếc hận.
"A Sanh không tin ta sẽ không giết tiểu tử kia, được thì nhanh gọi hắn tới cho A Sanh nhìn một chút."Hoàng đế hơi khom lưng, nhẹ giọng lầm bầm.
Trên chiếc bàn nhỏ có vô số chén rỗng, chất rượu màu đỏ kia được ủ từ một loại cỏ tên là Hoàng Lương (Hoàng Lương = kê vàng), ngàn vàng khó mua được, tương truyền chỉ cần một chút cũng có thể khiến tâm trí lâng lâng, mơ thấy mộng đẹp. Chính vì nó quá quý giá, muốn mơ một giấc mộng đẹp mà phải tốn rất nhiều tiền, cho nên quyền quý đương thời cũng khó có được. Nhưng trong tòa cung điện này, đâu đâu cũng có thể thấy loại cỏ này sinh trưởng.
"An Phúc, ngươi nói xem, làm hoàng đế mệt như vậy, vì sao bọn chúng vẫn luôn muốn tranh đoạt để làm thế?" Hoàng đế đột nhiên quay đầu lại hỏi.
Lão thái giám cúi đầu im lặng không lên tiếng. Hoàng đế không chờ nghe câu trả lời đã xoay người đi xa. Ánh trăng bên ngoài mông lung như sương, lấp lánh một cách chói mắt.
Hoàng thượng, đó là vì bọn họ chưa từng làm thử nên không biết. Ngay cả ngài, sau khi rượu Hoàng Lương tan đi, chẳng phải cũng một lòng muốn bảo vệ giang sơn vạn dặm của mình đó sao?
Nhân sinh giống như ván cờ, mỗi người là một con cờ, tung hoành ngang dọc một trận, cuối cùng ai mới có thể thoát ra đây?
Bên ngoài lại nổi gió to, kéo tuyết bay mù mịt, bóng dáng đơn độc dần khuất dạng.
Chương 164: Gió Bắc ẩn tình
Sau trận tuyết lớn, thời tiết càng thêm lạnh giá. Gió lớn không ngừng xoáy tròn trên không trung.
Ráng hồng giăng đầy trời, tuyết đọng trên mặt đất bị gió cuốn lên cao rồi rơi lả tả xuống trên mái ngói cung Sóc Phương ở Lạc Thành.
Hôm nay là dịp săn mùa đông của Bắc Yến, chiến sự ở phía Đông tạm thời ngưng lại, người Khuyển Nhung ở phương Bắc cũng đã bị đánh lui, binh sĩ đều phấn khởi trở về nội cảnh, chuẩn bị đón năm mới.
Sáng sớm, hàng quán hai bên đường Ngũ Huyên đều đóng cửa, cả con đường được rải cát vàng tránh cho bánh xe ngựa bị băng tuyết làm trơn trượt, xa xa nhìn lại rực rỡ óng ánh như dát vàng. Hai bên đường đều được giăng màn lụa, thường dân đã sớm được di tản, văn võ bá quan quỳ thành hai hàng, thủ vệ chậm rãi bước đi, trật tự dẫn đường cho đoàn xe ngựa lũ lượt lăn bánh, màn xe hoa lệ như lấn át cả ánh mặt trời trên cao.
Nhìn cảnh này, mấy lão nhân có trí nhớ tốt đều bất giác nhớ lại buổi săn mùa Đông hơn mười hai năm trước.
Tây thành Trung Khâu chính là trường săn thú hàng năm của Bắc Yến vương, bình nguyên rộng bát ngàn này tọa lạc ở trung tâm dãy Lạc Nhật, kề sát phía nam Hồi Sơn, đất ở đây đỏ quạch, cũng không rõ vì sao nó có màu như thế, tựa như bị máu tươi thấm đẫm nhuộm thành vậy.
Yến Tuân khoác áo lông chồn ngồi trên vương vị cao cao, trước mặt là bóng người trùng trùng, xa xa nhìn lại tựa như một cánh ưng đen thẫm. Đám quan lại thấp thỏm quỳ dưới vương liễn, không dám ngẩng đầu nhìn lên mặc cho đầu gối cứng ngắc vì lạnh. Chỉ có A Tinh lặng lẽ ngước lên, vẫn không thấy rõ mặt Yến Tuân.
"Trang đại nhân." Một giọng nói rét lạnh đột nhiên vang lên.
Một ông lão tuổi khoảng năm mươi giật mình, da mặt khẽ run run, chậm rãi đứng lên đi ra quỳ ở chính giữa, kính cẩn đáp lời: "Bệ hạ có gì căn dặn?"
"Không có gì, chẳng qua gần đây có được đồ chơi thú vị, muốn mời Trang đại nhân cùng thưởng ngoạn." Giọng nói của Yến Tuân mang theo ý cười, có hơi mong đợi của trẻ con đang nổi hứng muốn trêu đùa ai đó.
Trang đại nhân quỳ rạp xuống sát đất, các đốt ngón tay trắng bệch, mi tâm nhíu chặt, nhưng vẫn bình tĩnh đáp: "Đa ta bệ hạ đã nghĩ tới cựu thần."
Yến Tuần cười một tiếng, ánh mắt ẩn chứa sự giễu cợt, lười biếng vung tay lên, ra lệnh: "Mang ra đây."
Chuỗi âm thanh *lọc cọc* liên tục vang lên, một chiếc xe ngựa được kéo vào trường săn, mui xe được bao kín bằng vải thô đen kịt, mơ hồ nghe được bên trong có tiếng động nhỏ. Tất cả tò mò quay sang nhìn cỗ xe ngựa, toàn trường im lặng như tờ, chỉ nghe được tiếng hít thở kìm nén.
Một tiếng *cộp* đột nhiên vang lên khiến mọi người đồng loạt kinh ngạc, thì ra là Yến Tuân đang ngồi trên vương vị, buồn chán nên gõ cán roi lên thành ghế bằng vàng ròng, tạo thành từng tiếng *cộp, cộp, cộp* đều đặn...
Tất cả đều nín thở không nói chuyện, một thị vệ khoảng hơn ba mươi đi đến trước cỗ xe ngựa, vung tay lên kéo tấm vải đen xuống.
Tiếng hô kinh ngạc liên tục vang lên khắp toàn trường, ai cũng lộ vẻ kinh hoảng nhưng không dám lên tiếng chất vấn.
Trên cỗ xe kia là một nhóm thiếu nữ khoảng mười sáu mười bảy tuổi, tướng mạo cực kỳ xinh đẹp. Trời lạnh nên các nàng đều co lại thành một cụm, mặt ai cũng trắng bệch, hai tay bị trói chặt, trên người không một mảnh vải.
Trang đại nhân nhìn thoáng qua liền chết trân ngay tại chỗ, thời tiết cực lạnh nhưng trên trán ông lại bắt đầu rịn ướt mồ hôi.
Phía sau vang lên tiếng cười của Yến Tuân, vị đế vương trẻ tuổi dường như đang vừa ăn vừa nhắm rượu, nói giọng vô cùng thản nhiên: "Trang đại nhân là trụ cột của Bắc Yến, mấy năm qua đối với trẫm có ơn không ít, mũi tên đầu tiên hôm nay xin nhường cho đại nhân vậy."
Cửa lồng tre trên xe ngựa được mở ra, đám binh sĩ thô lỗ tiến lên đấm đá đuổi các thiếu nữ xuống. Các nàng đi chân trần, giẫm lên mặt tuyết lạnh lẽo, không lâu sau chân liền sưng đỏ cả lên.
"Chạy! Mau chạy cho ta!" Đám binh sĩ hung hăng quất roi, để lại trên những tấm lưng trắng nõn kia mấy đường đỏ tươi, kéo theo tiếng la hét chói tai. Các thiếu nữ mặc kệ đau đớn, cuống cuồng ôm vết thương trên người chạy trốn.
Thị vệ mang cung tên đến cho Trang đại nhân, Yến Tuân ở sau lưng lạnh nhạt thúc giục: "Trang đại nhân, nhanh lên đi chứ."
Trang đại nhân xanh mặt, môi không chút huyết sắc, ông chậm rãi lắp tên, chậm rãi căng dây cung, các ngón tay run rẩy kịch liệt.
Các thiếu nữ chạy trên bình nguyên, thân thể trẻ trung lấp loáng dưới ánh mặt trời. Tựa như cảm nhận được nguy cơ, bọn họ kinh hoàng quay đầu lại, nhìn thấy bóng dáng đang tiến lên thì thoáng cái ngây người ra.
Một mũi tên bay *vèo* tới, tuy nhiên lại không chút khí lực, bay được một đoạn ngắn đã rơi xuống trên mặt đất.
"Trang đại nhân, bản lĩnh của ông dường như không chỉ có vậy." Yến Tuân thong thả nói, đuôi mắt khẽ nhếch lên liếc về phía Trang đại nhân, cái nhìn vô cùng ung dung nhưng lại tựa như xuyên thấu tâm tư ông ta.
Trang đại nhân đứng yên tại chỗ, muốn nói nhưng một âm thanh cũng không thể phát ra, cả người run rẩy dữ dội. Bên dưới có quan viên nhỏ giọng nghị luận: "Nghe nói mấy ngày trước trong cung có một cung nữ muốn hành thích bệ hạ, chẳng lẽ bọn họ đều là...?"
"Trình Viễn, nếu Trang đại nhân tuổi cao sức yếu thì ngươi lên đi."
"Đa tạ bệ hạ cất nhắc." Một tướng lĩnh áo xanh bước ra, vững vàng nhận cung, *véo* một tiếng, mũi tên xẹt qua liền xuyên qua người thiếu nữ ở xa nhất. Thiếu nữ thảm thiết kêu to một tiếng, máu trước ngực phun thành vòi, bắn xuống mặt tuyết đỏ lòm.
Các thiếu nữ còn lại nhìn thấy thì sợ hãi cực độ, có người còn ngồi bệch xuống tại chỗ khóc rống, một người đột nhiên chạy về phía Trang đại nhân, vừa chạy vừa la to: "Tiên sinh, xin cứu ta! Xin cứu ta! Trang tiên sinh, ta là... Á!"
Trước khi tiếng thét thảm thiết đó vang lên, cách thiếu nữ nọ không xa có một thiếu nữ khác đột nhiên lao đến chụp lấy cổ thiếu nữ đang gào khóc, xoắn một cái đã vặn gãy cổ nàng ta.
"Chết thì chết, sao có thể cầu xin kẻ địch, đồ vô dụng!" Thiếu nữ đứng thẳng người lên, mặt tái nhợt nhưng hai mắt lại sắc lạnh như dao, lạnh lùng nhìn thẳng về phía vương vị, trên người không mảnh vải nhưng nàng vẫn không chút nao núng, trầm giọng nói: "Chúng ta là tín đồ của Đại Đồng, phàm là tiểu nhân phản bội Đại Đồng chắc chắn sẽ chết không có chỗ chôn!" Dứt lời lập tức đâm đầu vào một tảng đá bên dưới vương liễn, máu phun ra, thân thể liền mềm oặt không nhúc nhích nữa.
Biến đổi này đã khiến tất cả đờ người không kịp phản ứng, binh lính hối hả chạy đến thăm dò, sau mới quay lại báo cáo: "Bệ hạ, vẫn còn hơi thở."
Yến Tuân 'ừm' một tiếng, cũng không nói muốn xử phạt ra sao. Chẳng rõ vì sao, ánh mắt của cô gái vừa rồi rất quen thuộc, ký ức cũ thoáng chốc lại dâng trào, hắn nhướng mày lạnh lùng nhìn tràng diện máu me, đột nhiên mất sạch toàn bộ hứng thú, vì vậy chỉ phất tay một cái, đám thị vệ lập tức tiến lên, tiếng kêu thảm thiết vang vọng toàn trường. Một chốc sau, đám thiếu nữ đã không còn ai sống sót.
"Buổi săn bắt đầu, còn đám người này thì mang xuống cho chó ăn hết đi." Yến Tuân lạnh nhạt ra lệnh, thị vệ hơi sững sờ, do dự hỏi: "Vậy còn người đang hấp hối?"
Còn sống?
Một tia sáng chợt xẹt qua trong mắt Yến Tuân, trong đầu lại xuất hiện hình ảnh kia, ánh mắt quật cường của đứa bé gái kia tựa như đang nhìn thẳng vào hắn, khiến hắn bất giác rùng mình.
"Bệ hạ?" Trình Viễn gọi nhỏ.
Yến Tuân ngẩng đầu lên, thấy toàn trường đang nhìn mình chằm chằm thì không khỏi hơi nhíu mày, lạnh giọng nói: "Đều mang xuống hết."
"Dừng tay!" Trang đại nhân đột nhiên quát to, chạy đến quỳ cạnh thiếu nữ vừa tự vẫn kia, gào to: "Con ơi, đều do cha hại con!"
Yến Tuân đưa lưng về phía ông, khóe môi mỉm một nụ cười lạnh như băng, đám thị vệ đồng loạt chạy đến bắt trói Trang đại nhân, những người khác thì kéo thi thể thiếu nữ kia về phía chuồng chó, để lại trên mặt tuyết một vệt máu đỏ tươi thật dài.
"Yến Tuân! Đồ lang sói kia, ta thành quỷ cũng không tha cho ngươi! Ngươi sẽ chết không tử tế!" Tiếng mắng chửi vang vọng sau lưng, thị vệ nhìn thấy thì tức giận đạp một cước, làm gãy không ít răng trong miệng Trang đại nhân.
Yến Tuân lạnh lùng đi về phía trước, sau lưng là vô số văn võ bá quan vẫn còn thấp thỏm quỳ trên mặt đất. Hắn khinh thường cong môi nở một nụ cười không thể lạnh hơn nữa.
Chưa được sống thoải mái thì sao phải so đo chết thế nào?
Cuồng phong thổi đến khiến vạt áo lông của hắn tung bay phần phật, tựa như một đôi cánh ưng đang giương ra, chực bay đi.
Địa thế phương Bắc trống trải, bình nguyên rộng mênh mông, tiết xuân vẫn chưa về, mùa đông năm nay dường như dài hơn thường lệ.
... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... ...... .....
Bên ngoài gió thổi vù vù, mang theo hơi tuyết giá lạnh của phương Bắc luồn vào mọi ngõ ngách của cung Sóc Phương.
Đại điện trống trải hết sức yên tĩnh, màn lụa bay bay, gió luồn vào thổi tắt vài ngọn nến nhưng không ai dám tiến lên thắp lại.
Nam tử mặc cẩm bào ngồi bên một ngọn nến còn sáng, một tay đỡ trán tựa như đang ngủ, ngũ quan rõ ràng, thoạt nhìn còn rất trẻ nhưng dưới ánh nến vẫn có thể thấy rõ bên thái dương có vài sợi hoa râm, thỉnh thoảng phản chiếu ánh nến phát ra tia sáng màu bạc.
Trên cái bàn ăn khổng lồ cỡ phòng ngủ của một nhà bình thường bày đầy các món ăn quý hiếm: vịt bát bảo, súp vây cá, hồng mai châu hương, thịt thỏ xào ớt khô, bánh chẻo ngậm sữa, tường long song phi, đùi ếch xào cay, bồ câu nhồi, phật thủ kim quyển, chim cút quay, gà trân châu, canh cá nấu sữa, hải sâm sốt dầu, cá rán một lửa, đậu hũ đài sen, bông cải xào nấm.
*Vịt bát bảo là món ăn truyền thống nổi tiếng của dân tộc Hán sống ở khu vực Thượng Hải, nguyên liệu gồm có vịt (chính), gạo nếp, đậu Hà Lan, chân giò hun khói, tôm nõn, măng, hạt dẻ, sò khô, nấm khô, gà.
**Hồng mai châu hương (thịt gà cuộn tôm)
****Phật thủ kim quyển: thịt băm cuốn hành
***** Đậu hũ đài sen: đậu hũ hấp với đậu
Một bàn thức ăn không hề bị đụng đến, tô canh vốn nóng sốt cũng đã nguội lạnh, váng mỡ đóng thành lớp trên bề mặt, mùi thơm tan biến từ lâu, chỉ còn chút màu sắc nhợt nhạt vì bị đông lạnh.
Hai vũ cơ Đông Hồ mặc y phục lụa màu mật, cổ tay cổ chân có đeo chuông bạc làm nổi bật làn da trắng như tuyết, vô cùng xinh đẹp. Thế nhưng hiện tại bọn họ lại đang run rẩy quỳ trên mặt đất, ngay cả đầu cũng không dám ngẩng lên, cứ như vậy kéo dài gần hơn ba canh giờ.
Hôm nay là xuân yến, cũng chính là tiệc mừng năm mới trong dân gian, không giống với hoàng cung Đại Hạ náo nhiệt, cung Sóc Phương lại chìm trong tĩnh mịch khôn cùng. Chúng ngự trù hao tâm tổn trí nấu nướng nhưng không có ai thưởng thức, mùi thức ăn lãng đãng theo gió một chút rồi tan trong không khí.
Lúc A Tinh tiến vào, bước chân khá mạnh nên đã đánh thức nam nhân đang ngồi một mình kia.
Yến Tuân hơi chau mày rồi chậm rãi mở mắt ra, ánh nến nhờ nhờ trong điện khiến mặt nam nhân thoắt sáng thoát tối, chỉ có đôi mắt lạnh lùng đen như mực của hắn là vẫn rõ ràng.
"Bệ hạ." A Tinh quỳ xuống trầm giọng nói: "Có thư của Phong gia."
Trong không trung như thoang thoảng mùi rượu, nhìn lại thì thấy trên bàn ngổn ngang ly rượu, chảy ướt cả vạt áo nam nhân đang ngồi.
Yến Tuân nhận lấy thư, im lặng đọc qua, mi tâm khẽ nhíu nhưng ánh mắt vẫn hết sức bình tĩnh.
Đối diện Yến Tuân có bày một bộ chén đũa sạch sẽ. A Tinh biết hắn đang đợi ai, cũng biết, người nọ có thể vĩnh viễn sẽ không trở về.
Đồng hồ cát vừa đổi đầu, Yến Tuân từ tốn ngẩng đầu lên, chỉ có mười mấy chữ nhưng hắn lại đọc vô cùng chậm, tựa như muốn ghi khắc từng chữ một.
Qua hồi lâu, hắn đặt thư lên bàn, dùng bầu rượu chặn lại, cầm đũa bạc lên rồi bắt đầu dùng cơm.
"Bệ hạ." A Tinh cau mày nói: "Thức ăn đã nguội, để thuộc hạ bảo người đổi một bàn mới cho ngài."
Yến Tuân không nói lời nào, chỉ lẳng lặng phất phất tay, ra hiệu bảo hắn lui ra.
A Tinh hơi cuống lên, tiếp tục nói: "Gần đây thân thể bệ hạ không khỏe lắm, đại phu đã dặn không được ăn đồ lạnh."
Nhưng Yến Tuân vẫn không ngẩng đầu lên, chậm rãi ăn từng đũa một, mỗi gắp đều rất to. Vũ cơ đang quỳ gượng đứng lên, lảo đảo suýt ngã nhưng vẫn vội vàng chạy đến đẩy những đĩa thức ăn ở xa lại gần hắn hơn. Sáp nến chảy xuống từng giọt, tim nến đỏ hồng tựa máu, tiếng gió thổi khiến phong linh treo ở cửa điện phát ra âm thanh đinh đang vui tai.
Yến Tuân một mực lặng lẽ ngồi ăn, ăn sạch cả những đĩa thức ăn vũ cơ đẩy lại gần. Ánh nến hắt lên người hắn, đổ xuống một cái bóng thật gầy, đổ dài trên nền đá đen lạnh lẽo.
A Tinh đột nhiên thấy chua xót, chợt nhớ lại thời điểm hai năm trước, lúc tỉnh lại trong biệt viện ở thành Vân Bích, Sở Kiều cũng từng bình tĩnh ăn hết một bàn cơm canh, cũng từng lộ ra biểu tình lạnh lẽo, từng đũa từng đũa một như cố nuốt xuống mọi bi thương y như vậy.
Hốc mắt chợt cay cay, A Tinh không rõ, tại sao trải qua nhiều khó khăn khổ nạn như vậy cũng chịu được, nhưng khi sắp đạt được mục tiêu lại lùi bước, cuối cùng lại trở thành cục diện như hiện giờ?
Nhưng hắn không dám hỏi, chỉ có thể lặng lẽ đứng nhìn như một kẻ ngốc.
"Khụ khụ ~" Nam nhân ở chủ vị đột nhiên ho khan, âm thanh mới đầu còn rất nhẹ, sau dần lớn hơn. Tiếng ho văng vẳng trong đại điện trống trải, thấm đẫm cảm giác mệt mỏi.
Vũ cơ sợ hãi, vội vã rút khăn ra, một vũ cơ khác cũng run rẩy tìm nước, nhưng nhìn tới nhìn lui khắp bàn thì chỉ có rượu.
Yến Tuân cầm lấy khăn che miệng ho mạnh, sống lưng gập lại, cong như một con tôm.
Vũ cơ đột nhiên 'Á' một tiếng, Yến Tuân quay đầu sang liếc nhìn một cái, ánh mắt lạnh như băng liền khiến nàng sợ hãi rụt cổ lại, lập tức cúi đầu thật thấp, không dám ngẩng lên nữa.
"Bệ hạ, có phải bị lạnh không, thuộc hạ cho truyền thái y nhé?"
"Không cần." Giọng Yến Tuân nhuốm vẻ mệt mỏi nhưng thần sắc hắn vẫn bình thản như cũ, giọng điệu lạnh tanh, một chữ thừa cũng không có.
"Rót rượu." Hắn lạnh nhạt ra lệnh, vũ cơ đứng xa hơn thấp thỏm ngẩng lên, cuối cùng vẫn lấy hết dũng khí run rẩy nhẹ giọng nói: "Bệ hạ bị lạnh rồi, hay... hay là đừng uống nữa."
Yến Tuân khẽ nghiêng đầu, ánh mắt mang theo chút nghiền ngẫm nhìn nàng, cũng lạnh đi không ít. Vũ cơ còn lại lập tức run bắn, liên tục nháy mắt với nàng, sợ bản thân cũng vì vậy mà bị liên lụy.
Vũ cơ vừa lên tiếng bị nhìn đến run rẩy, nhưng vẫn đánh bạo nói: "Bệ hạ, uống... uống rượu sẽ hại thân."
Uống rượu không những hại thân còn dễ hỏng việc, chỉ có đồ vô dụng mới mượn rượu tiêu sầu.
Trong đầu đột nhiên văng vẳng một giọng nói trong trẻo, Yến Tuân thoáng ngây ra, tâm trí lập tức bay thật xa, dọc theo đường hầm thời gian hồi tưởng lại chuyện cũ. Hắn suy nghĩ một chút, cuối cùng từ tốn gật đầu, nói: "Ừ, vậy đi lấy trà cho ta."
Vũ cơ chỉ khoảng mười sáu mười bảy tuổi, nghe vậy liền vội vàng gật đầu, lắc chiếc eo thon vui mừng chạy ra ngoài.
Trên đại điện lại trở nên im lìm, Yến Tuân nhẹ giọng nói với A Tinh: "Ngươi lui xuống đi."
A Tinh do dự hỏi lại: "Bệ hạ, thật sự không cần thái y đến nhìn một chút sao?"
"Không cần." Yến Tuân lẳng lặng lắc đầu, thần sắc vô cùng bình tĩnh, tựa như chưa hề có gì xảy ra.
A Tinh hơi liếc mắt nhìn qua phong thư trên bàn, mấy chữ trên đó khiến hắn thoáng kinh hãi, lập tức cúi xuống, nhẹ giọng nói: "Vậy bệ hạ nhớ nghỉ ngơi sớm.
Không có ai đáp lời, A Tinh xoay người lại, nhấc chân bước đi trên sàn điện trống trải, màn lụa hai bên nhẹ bay bay, để lộ cột điện điêu khắc hình phi điểu ngũ sắc, trên lưng phi điểu có hai nữ tử ngồi quay lưng lại với nhau, một người áo rộng bồng bềnh, trước bụng nhô cao, người còn lại cầm trường thương, ánh mắt sắc bén, chính là song thần của Bắc Yến.
"Bệ hạ, uống chút trà đi!"
Sau lưng đột nhiên truyền tiếng kêu thất thanh xen lẫn tiếng nức nở, "Nô tỳ đáng chết, đã làm ướt thư, nô tỳ đáng chết."
"Không sao." Giọng nam trầm thấp lẳng lặng vang lên, "Ướt rồi thì ném đi."
... Đã vào biệt viện của Gia Cát Nguyệt ở Hiền Dương... không thể tiếp tục giám thị... không làm tròn chức trách...
A Tinh im lặng nghĩ tới mấy chữ vô tình đọc được kia, gió như mang theo mùi vị từ Hiền Dương xa xôi bay vào cung Sóc Phương.
A Tinh kéo cửa điện nặng nề ra, chậm rãi bước ra ngoài. Màn đêm bên ngoài vô cùng thanh lãnh, dân chúng Bắc Yến đã không còn tâm trạng mừng năm mới, chiến tranh, sưu thuế, lao dịch, chết chóc cùng máu tanh tựa như bao trùm cả cao nguyên. Mất đi Ô tiên sinh và Tú lệ tướng quân, chính quyền thiết huyết này càng thêm lạnh lẽo, lạnh đến mức tê liệt thần kinh của mọi người, bọn họ cũng chỉ có thể e dè trải qua mỗi ngày, dần dần đè nén chút mong đợi vô vọng sâu xuống tận đáy lòng.
A Tinh đi thẳng đến cửa cung Cửu Trọng mới rút bội kiếm ra. Trước cửa cung nhuốm đầy máu, mấy thi thể nằm trên đất, người lỗ chỗ vết thương.
Thị vệ hoàng cung đang kéo hai thi thể lên một cỗ xe nhỏ, nói với thị vệ đánh xe: "Nhanh lôi ra ngoài, trời sáng các đại thần sẽ đến thỉnh an đấy."
"Đã xảy ra chuyện gì?" A Tinh hỏi.
"Là dư nghiệt của Đại Đồng." Một binh sĩ cũng xuất thân từ Đại Đồng e dè nói: "Tối nay đã hai lượt rồi, cái chết của Trang đại nhân càng khiến bọn họ hung tợn hơn, cầm đao xông đến tận đây."
A Tinh khẽ nhíu mày, nhìn tình hình này thì không phải là hung tợn, mà là tuyệt vọng tự sát thì đúng hơn. Hầu hết thủ lĩnh của Đại Đồng đều đã bị bệ hạ tiêu trừ gần hết, tổ chức có nền tảng mấy trăm năm, nhiều năm như vậy vẫn chưa có ai có thể chân chính diệt trừ, không ngờ lại điêu tàn trong tay người mình từng ủng hộ.
"Phải cẩn thận canh phòng đấy."
"Xin tướng quân yên tâm." Một gã thị vệ cười nói: "Chúng ta năm đó đều do Sở đại nhân dạy dỗ, có mấy người chúng thuộc hạ ở đây, một con muỗi cũng đừng mong lọt vào." Vừa dứt lời, người nọ như ý thức mình vừa nói sai, Sở Kiều đã phản bội Bắc Yến, sao có thể gọi là đại nhân nữa chứ?
"Tướng quân, tiểu nhân, tiểu nhân..."
A Tinh không nói gì, xoay người im lặng rời đi, ánh trăng chiếu lên bóng lưng hắn, trắng lóa.
Cả Bắc Yến đều nhớ thương nàng, không chỉ riêng mấy người này.
Số mệnh đã rẽ sang một lối khác, giống như tên rời cung, đã bắn ra thì không thể thu hồi.
A Tinh nhẹ lắc đầu, xốc lại áo lông trên vai để cố lưu giữ thêm chút hơi ấm.
Chương 165: Cao tay bày kế
Nạp Lan Hồng Diệp bị tiếng mưa lúc hừng đông làm cho tỉnh giấc, trên đại điện vắng vẻ chỉ có mình nàng nằm trên giường, cung trang bằng lụa xanh trên người ướt sũng mồ hôi, gió luồn vào khiến sống lưng gai gai. Tay chân hơi tê dại, nàng nhẹ chà xát một lúc nhưng vẫn cảm thấy đầu ngón tay lạnh như băng.
Trên thư án cạnh giường có một bức thư được vuốt phẳng, góc giấy hơi sờn chứng tỏ nó đã được mân mê rất nhiều lần.
Nạp Lan Hồng Diệp đưa ánh mắt mông lung nhìn ra bên ngoài, từng hạt mưa rơi xuống bệ cửa kêu *tí tách*, màn lụa nhẹ nhàng đong đưa, uyển chuyển như vòng eo thon của vũ cơ.
"Tình thế nguy cấp, hiền đệ có ba con đường. Một, khống chế Nạp Lan thị, phế ấu đế, giam lỏng Trưởng công chúa, giết Tấn Giang vương, nhanh chóng nắm giữ binh quyền của Hoài Tống. Hai, cầu hôn Trưởng công chúa, dùng tư cách nhiếp chính vương đối kháng với Tấn Giang vương, vứt bỏ các tỉnh phía Đông để bảo vệ kinh đô và các vùng lân cận. Ba, cầu cứu Đại Hạ bằng phương thức hòa thân, nhưng tuyệt đối không thể dính dáng đến hoàng tộc, phòng ngừa Đại Hạ xảy ra biến cố đổi chủ. Cần chọn người tay nắm binh quyền, tuổi tác tương đương, xuất thân thế gia, bối cảnh hùng mạnh, quyền cao chức trọng, hơn nữa phải là người mà Hạ hoàng và triều đình cố kỵ. Sau khi hôn sự được công bố, Tấn Giang vương nhất định sẽ không dám tùy tiện dấy binh tấn công kinh đô, chờ cho lũ mùa xuân qua đi thì lập tức dẫn binh đánh phía Đông, trừ sạch mối họa này."
Không cần thắp đèn nhìn, từng câu từng chữ đã sớm khắc ghi trong đầu, Nạp Lan Hồng Diệp lẳng lặng tựa vào đầu giường, ánh mắt thăm thẳm như giếng cổ.
Thật ra thì còn một biện pháp nữa, đó chính là liên hôn với Bắc Yến, như vậy không những có thể tiêu trừ nguy cơ Tấn Giang vương làm phản mà còn giúp Bắc Yến có thêm trợ lực, hai nước một Đông một Tây cùng tấn công Đại Hạ.
Thế nhưng, người nọ ngay cả nghĩ cũng chưa từng nghĩ đến.
Tay nắm binh quyền, tuổi tác tương đương, xuất thân thế gia, bối cảnh hùng mạnh, quyền cao chức trọng, hơn nữa phải là người mà Hạ hoàng và triều đình cố kỵ...
Nam nhân như vậy, thiên hạ có được mấy người?
Nạp Lan Hồng Diệp nhếch môi nở một nụ cười lạnh nhạt.
Nghĩa huynh, huynh đúng là vẫn chưa thể buông tay...
Chiến tranh với Bắc Yến, Đông Bắc xuất hiện dị tộc nổi dậy, lục đục giữa các phe phái nội bộ, hoàng thất Đại Hạ rõ ràng đang lực bất tòng tâm. So với Đại Hạ, Hoài Tống nhiều năm bay không có chiến sự, quan hệ với Biện Đường cũng không quá căng thẳng, quốc khố đầy ắp, mậu dịch phồn vinh, Đại Hạ tuyệt đối sẽ không bỏ qua cơ hội bắt tay với một đồng minh tốt như vậy.
Thế nhưng, vị này không những nắm giữ binh lực hùng hậu, đảm nhiệm chức Đại Tư Mã dưới một người trên vạn người, mà gia tộc chống lưng cũng là hạng nhất, vị đế vương không ngai tung hoành Thanh Hải kia sao có thể dễ dàng mặc cho người khác thao túng?
Sau hai trận đại chiến giữa Bắc Yến và Đại Hạ, thiên hạ có ai không biết Tứ thiếu gia Gia Cát gia ôm ấp một mối cuồng si với Tú lệ tướng quân?
Đứng giữa giang sơn và mỹ nhân, Gia Cát Nguyệt đã chọn cái gì, có lẽ trong mắt người thường đều rõ cả. Nhưng nàng biết, việc hòa thân này nhất định sẽ không thành, chẳng phải vì nàng hiểu Gia Cát Nguyệt, phải nói là bởi vì nàng quá hiểu Yến Tuân thì đúng hơn.
Huynh làm sao có thể ngồi nhìn tình địch có thêm trợ giúp rồi trở thành nhiếp chính vương của Hoài Tống cơ chứ? Huynh đưa ra đề nghị như vậy, trong lòng ắt hẳn đã khẳng định người nọ sẽ không mặc cho huynh định đoạt...
Huynh đề nghị như vậy, chẳng qua chỉ để tạm thời kéo dài thời gian, không để Tấn Giang vương dấy binh mà thôi, hơn nữa còn có thể ly gián Gia Cát Nguyệt với hoàng tộc Đại Hạ, đẩy hắn lên đầu ngọn gió, khiến hắn vô duyên vô cớ đắc tội với Hạ hoàng. Không chỉ thế, nếu Gia Cát Nguyệt dám công khai cự tuyệt cầu thân, các sản nghiệp của Gia Cát gia trên lãnh thổ Hoài Tống dĩ nhiên sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ, địa vị của Gia Cát Nguyệt trong gia tộc cũng sẽ vì vậy mà tuột dốc không phanh. Cho dù hắn là phiên vương duy nhất nắm giữ chức vị đứng đầu hội trưởng lão thì cũng phải chịu đả kích mạnh mẽ.
Và rạn nứt giữa Thanh Hải và Đại Hạ sẽ chính là đòn bẩy giúp Bắc Yến bật lên.
Dây mơ rễ má trong những mưu kế này, nàng đã sớm thông suốt từ lâu, chỉ chẳng qua chưa muốn hành động mà thôi.
Nghĩa huynh quả nhiên lợi hại, chỉ đôi ba câu liền có thể bày ra kế hoạch dấy lên một trận náo loạn cho Đại Hạ. Điều duy nhất huynh ấy không ngờ đến, có lẽ là chuyện hiền đệ Huyền Mặc của huynh ấy và Trưởng công chúa Hoài Tống chính là một người.
Trong bóng tối mờ nhạt, Nạp Lan Hồng Diệp khẽ nheo mắt, trong đôi mắt xinh đẹp thoáng xuất hiện chút dao động.
Suy nghĩ trong đầu không ngừng lưu chuyển, nàng liên tục tự nói với bản thân, huynh ấy không biết Huyền Mặc là Nạp Lan Hồng Diệp, nếu biết, nhất định sẽ không xem nàng như một con cờ.
Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng nàng lại nảy sinh một cảm giác khổ sở đến cùng cực.
Dù sao đi nữa, huynh ấy chính là đang yêu cầu nàng gả cho người khác.
Huynh mưu cao trí tuyệt như vậy, đã kết nghĩa mười hai năm nhưng vẫn sơ suất thế sao? Thân phận thực của Huyền Mặc, huynh chưa từng nhìn ra sao?
Đầu ngón tay đột nhiên dùng sức, Nạp Lan Hồng Diệp vo tròn lá thư, chậm rãi thì thầm từng chữ một: "Nếu huynh đã có ý đó, vậy đệ cũng không ngại giúp huynh một tay."
................................................................................................................................
Gần đây thành Chân Hoàng không được yên bình cho lắm. Sau khi nhận được thư cầu thân từ Hoài Tống, toàn thành thoáng cái đã nổi lên vô số sóng ngầm.
Chuyện công chúa một nước gả cho thần tử một nước khác cũng không hẳn là chưa từng xảy ra, nhưng đó đều chẳng qua là vì đối tượng cầu thân không có hoàng tử thích hợp nên mới phải làm như vậy. Còn hiện giờ, Đại Hạ không thiếu hoàng tử đủ tuổi mà vẫn chưa kết hôn, Triệu Triệt hay Triệu Dương đều là thanh niên tài tuấn, nhất là Triệu Dương, địa vị vững chắc, tay nắm trọng quyền, quả thực chính là đối tượng sáng giá nhất Đại Hạ.
Trong khi đó, Hoài Tống hiện đã khác xưa, Nạp Lan Hòa Thanh vẫn còn nằm nôi, quyền hành đều nằm trong tay Nạp Lan Hồng Diệp, nàng tiếng là công chúa, thật ra thì đã như nữ hoàng Hoài Tống từ lâu, vì vậy phò mã tương lai của nàng vô cùng có khả năng trở thành nhiếp chính vương. Trong tình hình loạn loạc thi nhau nổi lên, triều đình bất ổn cộng thêm uy hiếp từ ngoại thích, không thể không nói, cho dù không nguyện ý thì Hoài Tống đi nước cờ này quả thực vô cùng hợp tình hợp lý.
Có điều, khi đặc phái viên Hoài Tống đứng giữa chính điện Đại Hạ xướng tên của Gia Cát Nguyệt, toàn bộ quân thần lại bị chấn động thêm một lần nữa.
Hai năm trước, sau khi tin Gia Cát Nguyệt thất thủ ở Nhạn Minh Quan rồi bỏ mình được lan rộng, thanh danh của hắn cũng đã theo đó rơi xuống vực sâu không đáy. Không ngờ chỉ hai năm sau, người này lại nhanh chóng gầy dựng binh lực ở Thanh Hải rồi vinh quang dẫn binh trở về cố quốc, nhảy vọt lên thành người có quyền thế nhất toàn triều, ngay cả Triệu Dương cũng phải nể mặt ba phần. Hôm nay công chúa Hoài Tống lại đột nhiên tự mình đưa tới cửa, nếu Gia Cát Nguyệt thật sự thành công trở thành phò mã của Trưởng công chúa Hoài Tống, thế lực của Gia Cát gia chắc chắn sẽ lại một bước lên trời. Trong tay nắm giữ đất phong vốn có và binh quyền ở Thanh Hải, tài năng lại khuynh đảo, nay có thêm trợ lực từ Hoài Tống, Gia Cát Nguyệt chắc chắn sẽ trở thành quyền thần hạng nhất ở Đại Hạ, dễ dàng đưa Gia Cát gia vượt lên cả Mục Hợp thị lúc còn trên đỉnh cao khi xưa.
Hậu quả đáng sợ rõ rành rành ngay trước mắt nhưng hoàng thất Triệu thị lại không cách nào từ chối củ khoai nóng bỏng tay này.
Chưa cần nói đến tình hình kinh tế nước nhà và chiến sự ở Tây Bắc, cứ nhìn mấy trận Bắc phạt trước đó thì biết, Bắc Yến rõ ràng có quan hệ ít nhiều gì đó với cả Biện Đường và Hoài Tống. Hiện tại Sở Kiều và Tú lệ quân đã rời khỏi Bắc Yến, quan hệ với Biện Đường cũng theo đó mà tan rã, nhưng còn Hoài Tống thì sao? Nếu chiến tranh toàn diện giữa Bắc Yến và Đại Hạ nổ ra, Hoài Tống sẽ có động thái thế nào? Trưởng công chúa của Hoài Tống gả cho Gia Cát Nguyệt sẽ có ảnh hưởng ra sao đến cục diện?
Dẫu biết rõ phía trước là một mê trận không đoán được thì Đại Hạ vẫn không thể không đâm đầu vào. Dù sao thì chiến sự ở Tây Bắc cũng không phải là rất cấp bách, gần tháng nữa tuyết sẽ tan thành lũ, đại quân Bắc Yến sẽ bị cầm chân.
Xế chiều hôm đó, thánh chỉ của hoàng đế, mật thư từ gia tộc cùng với tình báo của riêng Gia Cát Nguyệt đã lần lượt rời khỏi thành Chân Hoàng, theo ba đường khác nhau nhưng đều hướng về phía dãy Noãn Thủy mà đi.
........................................................................................................................
Triệu Dương ngồi trong đại sảnh thưởng trà, trên sàn trải thảm lông dày, không khí thoang thoảng huân hương thượng hạng, nắng bên ngoài chiếu vào khiến khuôn mặt anh tuấn của hắn bừng thêm vẻ oai hùng.
Thập lục hoàng tử Triệu Tường ngồi bên cạnh đang buồn chán chơi đùa với một con vẹt. Chú vẹt kia không ngừng nhảy nhót mổ thóc trong lòng bàn tay Triệu Tường mà vẫn không thèm mở miệng nói một chữ, khiến hắn thỉnh thoảng lại không nhịn được mắng nó vài câu.
"Thập lục đệ, đệ có cái nhìn thế nào về chuyện này?" Triệu Dương đột nhiên lên tiếng hỏi.
Triệu Tường cũng không quay đầu lại, chỉ lười biếng hỏi: "Chuyện gì mới được?"
"Chuyện công chúa Hoài Tống muốn hòa thân với Đại Hạ."
Triệu Tường nghe vậy liền quay phắt lại, nộ khí bừng bừng nói to: "Lão tứ của Gia Cát gia kia đúng là quá tốt số, tưởng đã chết lại mang về một đội quân đông mấy chục vạn, hôm nay lại có vận đào hoa từ trên trời rơi xuống như vậy, đúng là tức chết người khác mà."
Triệu Dương lại không hề có chút tức giận, chỉ bình thản nói: "Thật sự chỉ là tốt số thôi sao?"
Triệu Tường vẫn chưa hiểu ý trong lời huynh trưởng của mình, bực bội tiếp lời: "Theo lý mà nói, công chúa Hoài Tống muốn hòa thân thì cũng nên chọn Thập tứ ca mới đúng, tệ hơn thì cũng còn lão Thất, sao có thể tới phiên tên Gia Cát Nguyệt kia chứ? Nghe nói đám người ở Thanh Hải gọi hắn là Thanh Hải vương, theo đệ thấy, sau khi hắn trở thành nhiếp chính vương của Hoài Tống, tương lai hoàng đế Hoài Tống chắc chắn sẽ mang họ Gia Cát thôi. Thập tứ ca, huynh nói xem, có khi nào Đại Hạ chúng ta bị Hoài Tống tính kế không?"
Triệu Dương phì cười, nói: "Tính kế như vậy không khỏi quá thất sách rồi, có điều, tương lai e hoàng đế Hoài Tống họ Gia Cát sẽ khiến người ta đau đầu hơn nhiều so với hoàng đế Hoài Tống họ Nạp Lan."
Triệu Tường ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: "Bất quá, theo đệ thấy, Gia Cát Nguyệt tuy có hơi quái gở kỳ cục nhưng không hẳn là xấu, cũng là một người trung quân ái quốc."
"Trung quân ái quốc?" Triệu Dương liếc nhìn Triệu Tường, trầm giọng hỏi lại: "Đệ cảm thấy vậy?"
"Đệ từng có một thời gian ngắn chung đụng với hắn ở Thượng Võ Đường, Gia Cát Nguyệt tâm cao khí ngạo nhưng là người kiên cường, không giống đám con cháu thế gia còn lại, làm gì cũng có chủ kiến, đệ thấy hắn rất có tố chất phò tá đế vương."
"Phò tá đế vương?" Triệu Dương lắc đầu, "Người như hắn nào phải dạng người chịu đứng dưới kẻ khác? Có trung quân ái quốc cũng không phải trung với quân như ta và đệ."
Triệu Tường ngẩn ra, đưa ánh mắt nghi hoặc nhìn về phía Triệu Dương.
Triệu Dương cũng không giải thích, chỉ thản nhiên nói: "Chuyện này tuyệt đối không đơn giản như vậy, đích thị có cao thủ phía sau bày kế cho Nạp Lan thị, có điều..."
Hắn đột nhiên cười lạnh một tiếng, "Tất cả mọi người đều cho rằng đây là vận tốt từ trên trời rơi xuống, nhưng Gia Cát Nguyệt chưa hẳn sẽ nghĩ vậy. Cuối cùng cũng có người dám đụng đến vảy ngược của hắn, bản thân ta cũng thật mong chờ nhìn xem vị Thanh Hải vương này sẽ có phản ứng thế nào khi biết chuyện."
Bình nguyên lại nổi gió như điềm báo sắp có bão.
Chương 166: Sớm sớm chiều chiều
Thời gian trôi qua lặng lẽ tựa như bị ai âm thầm trộm đi.
Lúc không có người, Sở Kiều thỉnh thoảng sẽ thất thần cả buổi, lẳng lặng nhìn mặt trời mọc lên ở hướng Đông rồi lặn về phía Tây, màn đêm buông xuống, năm mới đến rồi lại đi, thời gian như dòng nước lặng lẽ chảy qua kẽ tay, làm thế nào cũng không níu giữ được.
Mọi kích động ban đầu dần qua đi, cuộc sống lại bắt đầu trở về quỹ đạo cũ, trên bầu trời bao la, đàn chim sải cánh bay về phương Bắc. Nàng thầm nghĩ, bọn chúng có lẽ là đang bay về nhà.
Sở Kiều đã chuyển vào ở trong biệt viện của Gia Cát Nguyệt, cũng chẳng với nguyên cớ hay lý do gì, Gia Cát Nguyệt chỉ hỏi nàng có muốn cùng hắn đón năm mới không, nàng suy nghĩ một chút thì gật đầu đồng ý.
Lễ mừng năm mới của bọn họ thật sự rất đơn giản.
Không có ca múa cung đình xa hoa, không nhiều lời chúc tụng sáo rỗng, cũng không cẩm tú mỹ thực, nhưng lại mang cảm giác yên bình hiếm có, vô cùng an nhiên tự tại.
Mấy ngày qua Sở Kiều và Gia Cát Nguyệt đã đi rất nhiều nơi, len lỏi qua từng con hẻm vắng, băng qua ngôi miếu cổ xưa, ăn hàng ngoài đường, chen chúc tham dự hội miếu, cùng nhau ngắm pháo hoa giao thừa rất lâu...
Tiếng pháo trúc đì đùng kia vẫn giòn giã tựa như hai năm trước, nàng đứng giữa con đường đầy bóng người, sáng rực đèn hoa đăng.
Sở Kiều tận hưởng cảm giác vui vẻ đã lâu không xuất hiện. Trong ánh đèn rực rỡ, hắn đứng trước mặt nàng, giúp nàng che chắn khỏi bị chen lấn, thỉnh thoảng quay lại cau mày to giọng mắng nàng chớ ngây ngô nhìn xung quanh như trẻ con như vậy có được không.
Pháo hoa bay vụt lên trời cao rồi nổ tung thành muôn vàn đóa hoa ngũ sắc, dư quang hắt lên mặt Gia Cát Nguyệt, đẹp vô cùng.
Đúng vậy, thật sự rất đẹp.
Sở Kiều quả thật không biết dùng từ nào khác để hình dung cảnh tượng trước mắt. Nàng tựa như chỉ vừa mới bị gió nơi chiến trường cuốn vào một thế giới kỳ quái, nàng nhìn thấy pháo hoa rực rỡ, hồ nước ấm áp, người dân vui vầy, và một Gia Cát Nguyệt đã buông bỏ mọi phòng bị cùng gút mắc. Nam nhân từng trừng to mắt nhìn nàng, rút đao chĩa về phía nàng, thế rồi lại giang tay bảo vệ, vì nàng không màng sống chết, hắn bây giờ đang còn sống, đang đứng trước mặt nàng, chau mày khiển trách nàng. Sở Kiều đột nhiên cảm thấy, khoảng thời gian này tựa như vừa lấy cắp được từ trong tay ông trời, mỗi một giây đều vô cùng trân quý.
Bốn phía chìm trong hoa lửa muôn màu, nhưng ánh mắt của nàng chỉ có một bóng người.
Tựa như mạch nước tạo thành bởi khối băng ngầm dưới đáy biển sâu tan ra, bất chợt dâng trào khiến tứ chi nàng lạnh lẽo, đại não chết lặng.
Tựa như nhân sinh trở nên rực rỡ trước đường cùng, nàng đứng trước cổng hoàng tuyền, nhìn sang phía ngũ sắc phồn hoa ở bờ bên kia, thầm nghĩ, đó có lẽ chính là cuộc sống mới.
Cho dù nhìn thấy nhưng lại cảm thấy nó thật sự rất xa vời.
.....................................................................................................................
Hai người trở về biệt viện.
Cửa phòng nửa đóng nửa mở, Gia Cát Nguyệt đứng trong sân, ánh trăng chiếu lên thân người khiến đóa cẩm tú to lớn thêu bằng chỉ vàng trên vạt áo xanh thẫm của hắn như tỏa sáng lấp lánh.
Hắn nhìn nàng, tựa như muốn nói gì đó nhưng hồi lâu vẫn không lên tiếng.
Ngoài sân rợp trong ánh trăng mông lung, tiếng chiêng trống náo nhiệt trên quảng trường cách đây mấy con phố văng vẳng bên tai, vô cùng tưng bừng. Cho dù không nhìn thấy thì Sở Kiều vẫn có thể mường tượng ra hình ảnh dân chúng đang cùng nhau vui vẻ nhảy múa.
Dường như đã rất lâu, rồi như chỉ trong một thoáng ngắn ngủi, hắn đột nhiên mở miệng, "Đi ngủ đi."
Sở Kiều gật đầu, rất bình thản mỉm cười, "Ngươi cũng vậy."
Cửa phòng nhẹ nhàng được khép lại, chậm rãi ngăn trở ánh trăng bên ngoài, trong phòng dần dần chỉ còn lại bóng tối tịch mịch.
Sở Kiều dựa lưng vào cửa, các ngón tay vẫn còn đặt trên chốt cửa. Người bên ngoài đã lâu vẫn chưa rời đi, gió đêm thổi qua khiến tán cây bên cửa sổ đung đưa kêu xào xạc, để lại những cái bóng chập chờn lên khung cửa sổ.
Đồng hồ cát chậm rãi đổi đầu, bên ngoài cuối cùng cũng vang lên tiếng bước chân rời đi, rất chậm nhưng càng lúc càng xa dần, càng lúc càng nhỏ.
Gió ngoài cửa đột nhiên trở lớn, luồn qua khe cửa thổi vào phòng, lành lạnh. Sở Kiều tựa đầu lên cửa phòng, trong bóng tối, chậm rãi nhắm mắt lại.
................................................................................................................................
Lúc Gia Cát Nguyệt về đến phòng, Nguyệt Thất vừa mới nhận được thư của Tiểu Phi, vui vẻ cất thư vào trong tay áo, nhìn thấy chủ tử cũng không thể che giấu tâm tình đang hết sức phấn khởi của mình.
"Tiểu Phi gửi thư à?"
"Dạ." Nguyệt Thất cười ha ha, nói: "Hải Nhi đã đầy tháng rồi."
Nhiều năm sánh vai chiến đấu, Gia Cát Nguyệt và Nguyệt Thất tuy mang danh chủ tớ, kỳ thực đã không khác gì huynh đệ. Nhớ đến trước khi đi, Tiểu Phi đúng là mới sinh quý tử cho Nguyệt Thất, Gia Cát Nguyệt không khỏi mỉm cười nói: "Chờ ta trở về sẽ chuẩn bị một phần đại lễ cho con của ngươi."
Nguyệt Thất cười nói: "Đa tạ thiếu gia."
"Mặc Nhi khỏe không?"
"Thưa, tất cả đều ổn." Nguyệt Thất lanh lảnh đáp lời, cậu nhóc Âu Dương Mặc được Gia Cát Nguyệt mang về khi xưa bây giờ đang được Tiểu Phi nuôi dưỡng, đối với đứa trẻ trong một đêm mất hết thân nhân, đây có lẽ mới là an bày tốt nhất.
"Đã bắt đầu theo Bạch phu tử học thuật châm cứu, thiên phú cực cao."
"Chủ nhân, Phong tướng quân gửi thư đến." Phương Chử từ bên ngoài đi vào, sau khi Nguyệt Thất bắt đầu lĩnh binh xông pha mặt trận thì Phương Chử liền trở thành thị vệ bên người Gia Cát Nguyệt. Phương Chử xuất thân từ Thanh Hải, cha mẹ cũng là do tổ tiên đắc tội người khác nên bị đày ra khỏi đại lục, sau khi đầu nhập dưới trướng Gia Cát Nguyệt đã một đường theo hắn trở về Đại Hạ, là một người trầm mặc ít lời, nhưng so tính bền bỉ kiên trì thì tuyệt đối không phải hạng thường, ngay cả Nguyệt Thất cũng phải kính nể vài phần.
Mở phong thư được niêm kỹ ra, Gia Cát Nguyệt mặt không đổi sắc nhìn qua một lượt, sau đó đưa cho Nguyệt Thất, đợi Nguyệt Thất đọc xong rồi mới trầm giọng hỏi: "Ngươi nghĩ thế nào?"
"Triệu Dương tuyệt đối sẽ không buông tay dễ dàng như vậy, một khi Thất điện hạ trở về nước liên thủ với thiếu gia, thế lực hắn thành lập suốt hai năm qua sẽ bị lung lay. Ngụy Quang đã già, Ngụy Thư Diệp lại có tâm tư khác, hắn không thể không đề phòng."
Gia Cát Nguyệt bình thản gật đầu, nhẹ giọng nói: "Người này chẳng những thức thời mà còn có tâm tư sâu kín, không khỏi có tính toán từ sớm."
"Chúng ta nên làm gì bây giờ?"
"Cứ theo kế hoạch mà làm, dặn Hứa Dương và Đa Lưu cẩn thận. Triệu Dương hiện giờ không gây được gió to gì đâu, thay vì bận tâm hắn, không bằng chú ý phía Bắc Yến nhiều hơn một chút."
Nguyệt Thất gật đầu, Gia Cát Nguyệt lại hỏi: "Tiến độ của việc vận chuyển thế nào rồi?"
"Thiếu gia yên tâm, tất cả người làm của Thần Nguyệt đều đang dốc sức, Chiêu Minh Công và Lương tiên sinh đã âm thầm chiêu mộ đông đảo nhân tài các ngành, hoàng đế Biện Đường cũng rất chú tâm chuyện chúng ta nhờ vả, tự mình phái Tôn đại nhân trợ giúp, huống chi năm nay lại được mùa, không cần phải dựa vào tiếp tế từ đại lục nữa."
Gia Cát Nguyệt gật đầu, "Mọi chuyện trong nhà vẫn ổn chứ?"
Chủ sự ở Thanh Hải hiện giờ là Phương Quang Tiềm, thúc thúc ruột của Phương Chử, cũng là thuộc hạ của Gia Cát Nguyệt ở Thanh Hải, Phương Chử mặt không chút thay đổi đáp lời: "Hôm qua thúc thúc có gửi thư báo mọi chuyện trong nhà đều ổn, tất cả mọi người đều đang trông chủ nhân trở về."
"Ừ." Gia Cát Nguyệt nhẹ gật đầu rồi nói: "Bảo tất cả gia tăng tiến độ, không còn nhiều thời gian nữa rồi, sau khi xong chuyện bên này, chúng ta sẽ trở về."
Phương Chử gật đầu tỏ vẻ đã rõ, sau đó cúi đầu lui ra ngoài.
Chờ Phương Chử đi, Nguyệt Thất mới hơi cau mày, nói: "Thiếu gia, thuộc hạ không hiểu."
"Ta biết ngươi muốn nói gì."
Ánh trăng trong trẻo rơi lên đầu vai, tô thêm vẻ lạnh lùng trên mặt nam nhân, đôi mắt phượng thâm trầm khẽ nheo, thần sắc bình thản như muôn thuở.
"Ngươi muốn hỏi, vì sao không thừa dịp Đại Hạ nội loạn, thế gia điêu tàn, cường địch bên ngoài lăm le, là thời cơ tốt để khởi binh, khống chế gia tộc rồi thay thế Triệu thị, có đúng không?"
Nguyệt Thất cả kinh, lập tức quỳ xuống, nhưng vẫn thẳng thắn nói: "Thuộc hạ lớn mật, nhưng thuộc hạ đúng là có nghĩ như vậy. Đại Hạ bất nhân, gia tộc cũng bất nghĩa, hai năm qua thiếu gia đã chịu bao khuất nhục, vì sao còn phải giúp đỡ bọn họ? Cùng lắm thì chúng ta trở về Thanh Hải, cô nương bây giờ dù sao cũng đã ở đây, chúng ta không phải sợ bọn họ uy hiếp. Thanh Hải đất rộng nhiều của, cho dù là cả đại lục Tây Mông cũng chưa chắc đủ để khiến chúng ta e ngại."
Nguyệt Thất nói một hơi, hồi lâu vẫn không nghe thấy tiếng Gia Cát Nguyệt thì đánh bạo ngẩng đầu lên, chỉ thấy Gia Cát Nguyệt đang ngước lên nhìn trời, trên khuôn mặt tuấn tú như bị bao phủ bởi bóng tối nặng nề, hai hàng lông mày nhíu chặt, nhuốm đầy năm tháng tang thương.
"Nguyệt Thất, gia tộc có không tốt thì cũng là nơi chúng ta lớn lên từ nhỏ, Đại Hạ không tốt thì cũng là cố thổ của chúng ta. Bây giờ cố quốc chìm trong loạn trong giặc ngoài, người dân lầm than, ta và ngươi sao có thể nhẫn tâm dấy thêm lửa khói trên mảnh đất đã hoang tàn này nữa?"
Nguyệt Thất nghe vậy, còn đang ngây người thì lại nghe Gia Cát Nguyệt nói tiếp: "Huống chi, ơn nghĩa của Triệu Triệt đối với ta, cũng không phải là nông."
Gia Cát Nguyệt dứt lời liền rời đi, để lại Nguyệt Thất vẫn sững sờ đứng đó, tỉ mỉ suy tư lời Gia Cát Nguyệt vừa nói.
Hắn không rõ cảm giác trong lòng là gì, trong tiềm thức cũng biết thiếu gia nói đúng, nhưng hễ nghĩ đến tất cả khuất nhục dồn nén suốt hai năm qua, làm sao cũng không thể xua tan cảm giác bi phẫn cùng bất bình tích tụ trong ngực. Chẳng lẽ thiếu gia thật sự không hề bận tâm?
Gia Cát Nguyệt đương nhiên có bận tâm.
Bên trong gian phòng tối mịt bật lên một tiếng cười rất khẽ.
Sao có thể không bận tâm, những tháng ngày chật vật cầu sinh lúc còn bé? Sao có thể không bận tâm, khi lòng đầy hoài bão nhưng cuối cùng lại bị đả kích không còn manh giáp? Sao có thể không bận tâm, sau thập tử nhất sinh, thứ đón chào hắn khi trở về lại chính là vô số sỉ nhục và châm biếm?
Không quên được, chết cũng không thể quên.
Hắn không muốn nói ra cảm nhận khi nãy, là lời của Nguyệt Thất đã khơi lên sóng lớn kịch liệt trong lòng hắn.
Nam nhi giữ tâm như sắt cho đến chết, cả đời bôn ba là vì sao? Còn gì nữa ngoài kiến công lập nghiệp? Còn gì nữa ngoài vượt lên mọi người, đứng trên tất cả, hô vân hoán vũ, một lời hiệu triệu trăm người?
Đối với nam nhân, tất cả những điều này đều là một loại hấp dẫn chết người, tựa như chất gây nghiện, vĩnh viễn cũng không cai bỏ được.
Sau khi tìm được đường sống từ trong chỗ chết, đổi lại là sự tuyệt tình, bị gán tiếng xấu, bị đất nước bị gia tộc vứt bỏ, thoáng chốc đã trở thành tiêu điểm công kích của cả Đại Hạ. Hắn không phải thánh nhân, sao có thể không oán hận?
Có lẽ đúng như lời Sở Kiều nói trước bia mộ, lúc nhìn Đại Hạ bại dưới thế công của Bắc Yến, đáy lòng hắn cũng không khỏi có chút hả lòng hả dạ. Khi Đại Hạ nội bộ xào xáo, hắn đã từng nghĩ đến chuyện xua binh Đông tiến, thay thế Đại Hạ, dùng vũ lực rửa sạch mọi sỉ nhục, nhìn phản ứng của những kẻ hèn hạ từng giẫm lên đầu hắn lúc trước.
Nhưng khoảnh khắc chuẩn bị lên đường, hắn đã lui bước.
Trên bình nguyên Thanh Hải đầy những con người vẫn còn ăn không đủ no mặc không đủ ấm đang dùng ánh mắt tha thiết nhìn hắn, những con người đã từng khẳng khái cưu mang khi hắn cùng đường, đang trông chờ hắn giúp bọn họ bình an trải qua mùa đông.
Đúng vậy, hắn không cách nào đi nói với Nguyệt Thất, không cách nào đi nói với những thuộc hạ đầu phục mình. Bọn họ nhất định sẽ trợn tròn mắt nhìn hắn, sau đó hỏi hắn: Thiếu gia, thật sự vì mấy tên nhà quê này mà buông tha việc đánh chiếm Tây Mông phồn hoa sao?
Đúng vậy, bất quá chỉ là con cháu đời sau của một đám nô tù đời đời sống ở tái ngoại, chỉ là mấy tên nhà quê không được thánh nhân cải giáo mà thôi. Nếu là trước kia, hắn có thể cũng sẽ nghĩ như vậy, hơn nữa còn hừ lạnh giễu cợt, đại trượng phu phải cầm được buông được, chí lớn bay xa, không thể chần chừ do dự như bọn đàn bà con gái. Nhưng cuối cùng đã có thứ thay đổi hắn, khi hắn bị cả thiên hạ ruồng bỏ, đã có người mở cửa đón hắn vào, dù đó là một cánh cửa cũ kỹ, một gian phòng dột nát, nhưng hắn đã ở trong đó, được chia sẻ một bát cháo ấm áp nhất từ trước đến giờ.
Khi đó, hắn đột nhiên thông hiểu Sở Kiều, hiểu được thiếu nữ luôn kiên định bảo hắn hãy chờ xem.
Nói đến phải cảm tạ ông trời, nếu như không có cơ duyên kia, hắn có thể vĩnh viễn cũng không hiểu được nàng, sẽ không hiểu được niềm vui khi có thể bảo hộ cùng gầy dựng người khác. Hắn ngạc nhiên phát hiện, loại vui sướng này không hề kém so với chinh phục cùng phá hủy.
Về phần Đại Hạ, về phần oán thù, về phần tranh đoạt Tây Mông...
Hắn chậm rãi nhắm mắt lại, bản thân hắn tự biết cái gì mới là thứ quan trọng nhất.
Đúng vậy, hắn vẫn phải đi tranh đoạt, đi đọ sức, dùng năng lực của mình bảo vệ thứ bản thân quý trọng, vẫn phải vững tâm đối đầu với mưu tính của những kẻ có tâm tư, vẫn phải ra chiến trường đối mặt với những kẻ không đồng chính kiến.
Ngay cả khi quyết định không đánh chiếm Đại Hạ, hắn vẫn không muốn ngồi yên nhìn cố quốc suy bại rồi rơi vào tay người khác.
Huống chi, hắn hôm nay đã không còn cách nào lui bước nữa, khi hắn dẫn binh ra khỏi Thùy Vi Quan, khi hắn tiếp nhận chức vị Đại Tư Mã của Đại Hạ, khi hắn dốc sức cản trở chiến cuộc giữa Đại Hạ và Biện Đường, kết cục của mọi chuyện đã được định sẵn.
Nhớ đến năm đó khi cùng đồ mạt lộ, hắn và Triệu Triệt đã đứng giữa đất trời giá rét ở Đông Hồ cùng nhau hạ lời thề, trong mắt hai người đều thấp thoáng một tia lạnh lẽo cực độ.
Thế nhưng, bây giờ trong màn sương lạnh lẽo đó lại chợt xuất hiện một đôi mắt đen bình tĩnh, ánh mắt kia nhìn rất ôn hòa, tuy nhiên nó lại chất chứa vẻ bi thương không thể che giấu.
Gia Cát Nguyệt lặng lẽ nhắm mắt lại, ngón tay vuốt ve thành chén trà bằng sứ trắng.
Hắn nhẹ mỉm cười, nụ cười khổ sở, lạnh lẽo tựa băng tuyết.
Tất cả đã kết thúc khi còn chưa bắt đầu, bọn họ vốn luôn như vậy, gặp nhau không đúng lúc, rời đi không đúng lúc, vận mệnh đã đẩy bọn họ đi lên con đường không thấy lối, sánh vai mò mẫm đi từng bước một.
Trong phòng tối mịt, ánh trăng trong trẻo xuyên qua cửa sổ chiếu vào, lạnh lùng hắt lên người Gia Cát Nguyệt. Nói cho cùng thì vẫn chỉ là một nam nhân mới hơn hai mươi tuổi, dẫu có trải qua nhiều trắc trở gian khổ, hắn thỉnh thoảng vẫn sẽ mơ thấy mình bách chiến bách thắng trở về, lập được chiến công hiển hách, sau đó đi đến trước mặt người trong lòng, ung dung nói một câu: Tất cả đều cho nàng!
Thế nhưng, tất cả cuối cùng chỉ có thể là một giấc mộng mà thôi.
Gia Cát Nguyệt dựa lên lưng ghế, khóe môi nở một nụ cười nhẹ bẫng.
Chương 167: Nam Bắc ngược đầu
Tối hôm đó, mãi đến hừng đông Gia Cát Nguyệt mới mệt mỏi lên giường nằm, thần trí dần bay xa, mơ hồ thấy được những hình ảnh đã quên lãng từ lâu.
Trong tăm tối, hắn tựa như thấy được vô số quang ảnh lưu chuyển bên cạnh, nước lạnh thấu xương, toàn thân hắn cũng gần như bị đông cứng.
Một cánh tay trắng bệch bắt lấy tay hắn, liều mạng kéo hắn bơi về phía trước, máu tươi không ngừng trào ra, hòa tan trong làn nước giá băng.
Nguyệt Cửu đỏ bừng hốc mắt, vừa kéo hắn vừa liên tục rẽ nước. Ánh mặt trời xuyên qua tầng băng khiến làn nước sáng một cách mờ ảo, hắn mơ hồ nghe được bên trên truyền đến tiếng hô, rất lớn, rất vang vọng, xuyên qua nước truyền vào tai hắn, rõ ràng một cách dị thường: Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!
Hắn biết, bọn chúng cho rằng hắn đã chết, đấy là tiếng tung hô của chiến sĩ Bắc Yến dành cho Yến Tuân.
Âm thanh tựa như thủy triều càng lúc càng lớn, trừ âm thanh kia, cái gì hắn cũng không nghe được. Hắn đã bại bởi tay người khác, từ nhỏ đến lớn, hắn chưa bao giờ thua thê thảm như vậy, bây giờ chỉ e cả hắn cũng phải bỏ mạng tại đây.
Âm thanh dần xa, thân thể hắn đã sớm mất sạch nhiệt độ, máu như đều đông cứng, tứ chi không còn chút khí lực.
Đột nhiên, một tiếng *binh* mạnh mẽ truyền đến trong tai. Hắn ngẩng đầu lên, nhìn thấy Nguyệt Cửu đang ra sức dùng đầu mình dộng vào mặt băng.
*Binh! Binh! Binh!*
Tiếng động như ngũ lôi giáng vào tim hắn, đầu của viên thị vệ bật máu, máu tươi liền nhanh chóng tan ra trong nước.
Sắc mặt Nguyệt Cửu trắng hơn cả tuyết, môi không còn chút màu sắc, tựa như quỷ vừa bò ra khỏi hầm mộ. Tay chân đã cứng ngắc nhưng hắn vẫn không ngừng khoa nước, bơi xuống rồi lại trồi lên, cứ như vậy hết lần này đến lần khác...
*Binh! Binh! Binh!*
Khoảnh khắc đó, đáy lòng hắn như bầu trời bị tầng mây đen che phủ xuất hiện một lỗ hổng để ánh nắng tươi đẹp rọi vào. Hắn chợt bừng tỉnh, đó là thuộc hạ của hắn, từ bốn tuổi đã vào nhà hắn, cho đến nay, bọn họ chết vì hắn đều là lẽ thường, hắn cũng chưa bao giờ cảm thấy có gì không đúng. Nhưng trong một khắc đó, hắn lại nhớ đến rất lâu trước đó, có một đứa bé gái từng nói với hắn, cô bé có khuôn mặt xinh xắn nhưng lại mang ánh mắt lạnh lùng, gằn từng chữ nói với hắn: "Không ai trời sinh đã là nô lệ."
Không ai trời sinh đã là nô lệ.
Sau một tiếng *binh* nữa, máu tươi đột nhiên túa ra nhiều hơn, bốn bề là nước nhưng hắn vẫn có thể cảm nhận được mùi máu nồng sực.
Thân thể bỗng nhiên tràn đầy khí lực, hắn bơi lên, đẩy Nguyệt Cửu đầu đầy máu sang một bên, tay nắm lấy chủy thủ của Sở Kiều, ra sức đục.
"Ta không thể chết!" Hắn thấp giọng tự nói với mình.
"Ta không thể chết, ta còn rất nhiều tâm nguyện còn chưa hoàn thành."
Phổi như muốn nổ tung, thân thể gần như đông cứng, vết thương trước ngực không ngừng ứa máu nhưng hắn vẫn đấu tranh cầu sinh.
Ta không thể chết! Ta không thể chết! Không thể chết!
*Rắc!*
Tầng băng chợt rạn nứt rồi vỡ vụn, thay đổi áp suất đột ngột lập tức đẩy cả người hắn lên, ánh mặt trời rực rỡ đến chói mắt, không khí trong lành đập vào mặt, hắn hối hả hít vào từng ngụm, chỉ hận không thể móc phổi ra mà thở.
"Nguyệt Cửu!" Hắn hô to: "Chúng ta thoát rồi!"
Nhìn quanh vẫn không thấy Nguyệt Cửu, hắn lại lặn xuống, rốt cuộc tìm được thi thể của Nguyệt Cửu ở đáy hồ.
Viên kiếm khách trẻ tuổi thân đầy vết thương, mặt tái xanh đến rợn người, hai mắt trừng lớn, tóc tai tán loạn, đỉnh đầu toàn máu đen. Hắn cực khổ kéo Nguyệt Cửu lên, cố gắng ép ngực, chà xát mặt, chà xát tay Nguyệt Cửu, miệng không ngừng kêu: "Tỉnh lại! Ta lệnh cho ngươi, mau tỉnh lại!"
Cả đời Gia Cát Nguyệt, chưa từng nước mắt lã chã như vậy, nhưng hôm đó, hắn đã rơi lệ vì một gia nô. Trên đồng tuyết mênh mông bát ngát, hắn đã rống lên như một con sói bi thương.
Ba ngày sau, hắn cuối cùng gặp lại Nguyệt Thất bị nạn không chết.
Viên thị vệ trung thành mang theo nhóm Nguyệt Vệ mai phục tại Bắc Yến còn sót lại, đã tìm kiếm hắn ở lân cận hồ Xích Thủy hết ba ngày ba đêm, số người bị chết rét vì lặn xuống hồ đã lên đến hơn hai mươi người.
Sau đó, bọn họ mang hắn khi ấy nửa sống nửa chết lên núi Ngoại Long dưỡng thương đến tận nửa năm sau mới hồi phục, nhưng lúc tỉnh dậy, chờ đón hắn lại chính là tin tức kinh người từ đế đô.
Sáng hôm đó, nhóm người Nguyệt Thất lần lượt tiến vào báo cáo tin tức cho hắn nghe, từ lúc mặt trời mới lên mãi đến khi mặt trời lặn. Sư phụ đi tới nhìn tấm bản đồ Tây Mông treo trước mặt hắn, hờ hững hỏi: "Con định thế nào?"
Đã nhiều năm như vậy, đó là lần đầu tiên hắn cảm thấy mờ mịt như hiện giờ, hắn ngẩng đầu lên, hỏi: "Sư phụ, ta không còn đường để đi nữa."
Ông lão râu tóc hoa râm hiền lành mỉm cười, sau đó vung một chưởng đánh nát bản đồ đại lục Tây Mông, lẳng lặng nói: "Nếu không còn đường thì hãy tự mình mở đường cho bản thân."
Hắn nghi hoặc nhìn lại, Đại Hạ, Bắc Yến, Biện Đường và Hoài Tống đều bị một chưởng của sư phụ đánh nát, trên tấm bản đồ xuất hiện một lỗ hổng trống trơn, chỉ còn tái ngoại Khuyển Nhung, hải vực Đông Nam và phương Tây bao la.
"Con à, nhân ngoại hữu nhân, thiên ngoại hữu thiên*, làm sao con biết tấm bản đồ này chỉ lớn chừng này?"
* Ý chỉ người tài có người tài hơn
Sáng sớm ngày thứ hai, hắn nhận được một tin mới, tháng trước Đại Lý viện thẩm tra, cuối cùng tội của Mông Phong cũng bị định, nàng bị đày đi Thanh Hải, bây giờ e đã đến Thùy Vi Quan rồi.
Thế rồi mọi thứ như hòa tan trong ánh sáng chói lòa, những ngày tháng tối tăm lạnh lẽo như băng, loan đao trong tay hắn không ngừng vung lên, không ngừng đấu tranh với vận mệnh. Máu tươi bao trùm trước mắt, hắn cuối cùng tìm được chân lý của cuộc sống đã mất từ lâu.
........................................................................................................................
Sáng hôm sau, khoái mã từ thành Chân Hoàng đột nhiên xông vào biệt viện của Gia Cát Nguyệt, binh sĩ mặt phong trần, da môi khô nứt, áo choàng rách bươm, dính đầy cát vàng.
Nhìn sắc mặt của mọi người đều không quá tốt, Sở Kiều chợt hiểu ra gì đó, lẳng lặng đứng dậy rời khỏi phòng ăn.
Nửa canh giờ sau, Gia Cát Nguyệt chuẩn bị rời đi.
Sở Kiều đưa tiễn ra đến tận cửa thành Bắc. Ngoài thành trời hơi lạnh, Sở Kiều khoác áo choàng xanh, viền cổ lông trắng bao quanh khuôn mặt trắng mịn của nàng, thoạt nhìn vô cùng trang nhã xinh đẹp.
Đi đến đình Thập Lý ngoài thành, nhóm người Nguyệt Thất thức thời thối lui chỉ để lại hai người bọn họ. Gia Cát Nguyệt không nói một lời xuống ngựa, Sở Kiều theo ở sau lưng. Ngôi đình hoang vắng mọc đầy cỏ dại, lớp sơn trên cột đình đều đã bong tróc, bảng hiệu nghiêng lệch, thoạt nhìn vô cùng điêu tàn.
"Ta phải đi rồi." Gia Cát Nguyệt xoay người lại, lẳng lặng nhìn nàng, cất giọng rất nhẹ.
"Ừ." Sở Kiều gật đầu, "Đi đường cẩn thận."
Gia Cát Nguyệt hơi nhíu mày, bọn họ dường như luôn như thế này, sau khi mọi kích động lúc mới gặp lại qua đi, hai người càng thêm xa cách cùng lạnh nhạt. Tựa như ai cũng không rõ nên đối xử với đối phương ra sao ngoài mấy lời chào hỏi vụn vặt.
"Sau khi ta đi, nàng muốn đi đâu?"
"Ta? Có lẽ sẽ đi Biện Đường một chuyến trước."
"Sau đó thì sao?"
"Sau đó?" Sở Kiều thoáng chau mày, suy nghĩ một lúc mới cười nói: "Cũng chưa biết, có lẽ sẽ đi ngao du một thời gian, ở đâu có đồ ăn ngon, ở đâu có cảnh đẹp thì dừng chân thăm thú, sao biết trước được."
Một trận gió chợt thổi qua, tiếng *đinh đang* thanh thúy vang lên, Sở Kiều và Gia Cát Nguyệt đồng thời ngẩng đầu lên nhìn. Thì ra ngôi đình cũ nát này vẫn còn treo một chuỗi chuông gió, chuông gió bị nắng mưa làm cho rỉ sét bạc màu từ lâu, nhưng âm thanh vẫn còn rất trong trẻo dễ nghe.
"Nàng... có đi Bắc Yến không?"
Sở Kiều lẳng lặng cười, "Ta đã ở đó rất nhiều năm, có bao nhiêu cảnh đẹp đều đã đi xem hết rồi. Huống chi, hiện tại thân thể ta không tốt, không chịu được cái rét của phương Bắc nữa, có lẽ ngay cả thành Chân Hoàng cũng không dám đi."
Gia Cát Nguyệt gật đầu, dường như cũng hiểu được cái gì, động tác chợt trở nên cứng ngắc, mấy lời còn chôn trong lòng cũng không nói ra được nữa.
Những ngày qua tựa như hoa nở trên mặt biển, tạm bợ mơ hồ như một giấc mộng, thời gian qua đi, cũng sẽ tan biến mà thôi. Hai người bọn họ, luôn là không đúng lúc, ngay cả bây giờ đứng ở đây, cũng là một loại cưỡng cầu bất đắc dĩ. Kết cục đã được định trước, giống như cát mịn trong tay, càng muốn nắm bắt thì trượt khỏi tay càng nhanh hơn.
Gia Cát Nguyệt xoay người đi ra ngoài, sắc mặt vẫn cô ngạo và thanh lãnh như xưa, không có ý định nói thêm câu nào nữa.
"Gia Cát Nguyệt!" Sau lưng Gia Cát Nguyệt đột nhiên vang lên một âm thanh mềm nhẹ, vạt áo hắn cũng đồng thời bị một bàn tay nhỏ nhắn lành lạnh nắm lại, vẫn vẻ cố chấp rất quen thuộc kia.
"Cảm ơn ngươi." Sở Kiều thì thầm, giọng nói hơi nghèn nghẹt nhưng vẫn liền mạch, "Ta vốn tưởng đời này không còn cơ hội nói cảm ơn ngươi nữa, nhưng nhờ ông trời phù hộ, ngươi cuối cùng vẫn bình an vô sự."
Nàng khẽ mỉm cười, "Gia Cát Nguyệt, cả đời ta bị trói buộc bởi nhiều thứ, ta đã làm rất nhiều chuyện, đi rất nhiều đường, có đúng cũng có sai, nhưng ta chưa bao giờ hối hận, ta hiểu rõ lòng mình, không để nợ bất kỳ ai, ngoại trừ ngươi, ta đã thiếu ngươi quá nhiều, nhiều đến mức có làm thế nào cũng không trả đủ. Hôm nay ngươi bình an trở về, ta vốn nên đi theo ngươi, dùng cả đời còn lại hoàn trả ân tình của ngươi. Nhưng ta hiện giờ đã không còn là ta lúc xưa, sau khi trải qua mọi chuyện, ta đã không còn dũng khí đối đầu với những binh giao tranh đấu kia nữa. Tú lệ tướng quân của Bắc Yến đã chết, hiện tại còn sống chỉ là một nữ nhân bình thường đã mất lý tưởng, không có năng lực đứng cạnh ngươi."
Bên tai vẫn *đinh đang* tiếng chuông gió, thời gian hiện tại như ngừng trôi, số mệnh quanh đi quẩn lại tựa một trò chơi liên tục đùa bỡn thế nhân vô năng.
Từ phía sau, Sở Kiều đột nhiên nhích đến gần, giang rộng hai tay vòng lên ôm lấy lưng Gia Cát Nguyệt, chỉ thêu trên cẩm bào làm nổi bật cổ tay trắng trẻo của nàng. Gió thổi phe phất, nàng từ từ siết chặt vòng tay, chậm rãi áp mặt lên lưng hắn.
Một giọt lệ chảy ra khỏi khóe mắt, lăn dài trên má rồi rơi xuống lưng áo xanh đen của nam nhân, khiến nơi đó trở nên sẫm màu hơn.
"Gia Cát Nguyệt, thật xin lỗi." Giọng nàng rất nhỏ, trong gió Bắc nghe như tiếng trẻ con khóc nỉ non.
Không trung chợt có tuyết rơi, nhưng bông tuyết còn chưa chạm đất thì đã tan mất, lẳng lặng thấm ướt đầu vai hai người.
Khoảng cách gần đến mức có thể nghe được hô hấp của nhau, đây là lần đầu tiên nàng chủ động ôm hắn. Năm tháng như dòng nước chảy, gặp rồi lại chia ly, chia ly rồi lại tái ngộ, vừa mới bắt đầu thì số mệnh đã trêu đùa với bọn họ. Trải qua bao nhiêu năm tháng nhưng gió tanh mưa máu cuối cùng vẫn như gông xiềng khóa chặt lấy hai người.
Một đàn chim xẹt qua không trung rồi bay về phía chân trời, đàn chim bay thành hàng đều đặn sải cánh hướng về phía Nam, thoáng chốc đã xa dần rồi mất dạng.
Sở Kiều rốt cuộc thả lỏng vòng ôm rồi rút tay về, y phục của hắn thật lạnh, khiến tay nàng cũng lạnh theo, lưng hắn vẫn thẳng tắp, tựa như gốc cổ thụ không gì trên thế gian có thể đốn ngã. Hắn vẫn cao lớn tuấn tú như vậy, khí tức vẫn lạnh lẽo như muốn đóng băng không khí xung quanh.
Hai cánh tay chợt trở nên thừa thãi, Sở Kiều mấp máy khóe môi, nở một nụ cười thật nhạt, "Bảo trọng."
Phương xa đột nhiên nổi gió to khiến chuông gió *đing đang* liên hồi. Gia Cát Nguyệt bước ra khỏi đình, gót giày tinh xảo giẫm trên lớp cỏ vàng khô khiến chúng gãy vụn, gió thổi qua, bay tan tác. Hắn nhảy lên lưng ngựa, chúng Nguyệt Vệ vung mạnh roi, hô to khẩu hiệu lên đường, vó ngựa tung bay phá vỡ sự yên tĩnh trên đường núi, vô số vạt áo choàng phấp phới tựa như chiến kỳ đồng loạt hướng về phía Bắc mà đi.
Hắn không hề quay đầu lại, dáng vẻ anh tuấn và kiêu ngạo ngồi trên lưng ngựa, áo choàng xanh thẫm bay múa, tóc đen như mực hòa trong gió lạnh, càng lúc càng xa, cuối cùng biến mất trong bụi cát cuồn cuộn...
Sương sớm còn chưa tan, vây trắng xóa cuối con đường, cỏ khô hai bên đường bị gió xoáy cuốn bay tan tác.
Sở Kiều đột nhiên nhớ lại rất lâu khi trước, trên cao nguyên Bắc Yến, nàng và Tú lệ quân bị Trình Viễn tính kế rồi lọt vào vòng vây của Đại Hạ.
Buổi tối hôm đó nàng cũng chăm chú nhìn theo bóng lưng hắn như hiện giờ, lẳng lặng nhìn hắn dần dần biến mất trong đồng tuyết mịt mù. Khi đó, hắn cũng không hề quay đầu lại, nhưng lại đi rất chậm, tay dắt ngựa, người mặc áo lông dày sụ, bão tuyết rơi không ngừng, rơi nặng cả mi mắt, trời vô cùng lạnh, lạnh đến mức khiến người ta phải rơi lệ.
Chớp mắt mà đã nhiều năm như vậy.
Mặt trời nhô lên xua tan màn sương sớm, trên đường bắt đầu xuất hiện người bán hàng rong cùng người đi đường qua lại, tiếng động huyên náo cả một vùng.
Rồi mặt trời dần lên trên đỉnh đầu, đã có rất nhiều đội nhân mã đi ngang qua, có cả xe ngựa của tiểu thư nhà quan đi bái Phật, có tiêu đội giang hồ áp tải hàng, có hiệp khách áo trắng thường thấy trong tiểu thuyết võ hiệp, nhìn thấy nàng đứng trong đình, thậm chí còn có người tiến lên chào hỏi trêu đùa phong lưu.
Nhưng cái gì nàng cũng không nhìn thấy, nàng chỉ lẳng lặng đứng đó, tiếng động xung quanh càng lớn thì nàng lại thấy không khí như càng cô tịch. Mặt trời lên cao rồi lại rơi xuống, vầng trăng cong cong như một chiếc móc bạc chậm rãi nhô lên, tỏa ra ánh sáng trong trẻo lạnh lùng.
Xung quanh dần trở nên vắng lặng, chỉ còn lại một mình Sở Kiều, tay chân nàng đều đã chết lặng, đêm càng lúc càng sâu, bóng tối bao phủ vạn vật, cả đường về và đường phía trước đều tối tăm không rõ lối.
Sở Kiều hít một hơi thật sâu, cúi đầu lắc lắc cần cổ đã cứng ngắc, mọi khổ sở trong lòng hóa thành một tiếng thở dài không được phát ra, chỉ chậm rãi được nuốt ngược trở về.
Gió nhẹ thổi qua trên đồng hoang khiến bãi cỏ kêu xào xạc, nàng chợt cảm thấy vô cùng trống trải, chuyện cũ như nước lại lần lượt trôi qua trong đầu rồi đi xa, chỉ còn lại một khoảng không trống rỗng. Mười năm sinh tử, cuối cùng tất cả đều trở thành một khoảng không mờ sương, như gió luồn qua đầu ngón tay, muốn bắt cũng chỉ hoài công.
Nàng đột nhiên nhớ lại mấy lời của rất nhiều năm về trước.
"Tiểu Hoàng, cậu nhiều đàn ông như vậy, rốt cuộc thích ai thế?"
Tiểu Hoàng đang giũa móng tay, nghe hỏi thì nhướng mày cười hỏi: "Mình? Chẳng rõ nữa, mà chưa kể, bọn họ có ai xứng với mình chứ?"
"Tiểu Thi, còn cậu? Định cả đời quấn lấy anh chàng tiến sĩ kia sao?"
Tiểu Thi vừa mới dọn cơm mình vừa nấu lên, cười ngọt ngào: "Ừ, thế thì sao?"
"Cẩn thận một chút, cậu nuôi tên đó ăn học, coi chừng sau này hắn công thành danh toại sẽ đá cậu đấy."
"Còn lâu mới có chuyện đó." Tiểu Thi lườm Miêu Nhi, "Cậu thì sao, nếu sau này bị người trong lòng đá, cậu sẽ làm thế nào?"
"Dám à?" Miêu Nhi bật đứng lên ghế sô pha, bộ dạng hùng hổ nói: "Nếu hắn dám làm vậy mình sẽ thiến hắn, sau đó bắt đầu công cuộc lôi hồ ly tinh ra ánh sáng để giày xéo."
Tiểu Hoàng khinh thường hừ một cái, "Cậu làm được sao?"
"Dám xem thường à? Tối nay sẽ bán cậu vào nhà chứa cho biết mùi."
"Được thôi." Tiểu Hoàng uể oải vươn vai, "Mình cũng đang định tới Amsterdam thi lấy chứng nhận nghề nghiệp đấy, nhớ báo cho lão già nhà mình trước một tiếng."
"Sở Kiều thì sao?" Tiểu Thi dùng nĩa ăn lô bánh bao nhỏ vừa ra lò, dùng vai huých nàng, híp mắt cười hỏi: "Sở Kiều sẽ làm gì khi có người mình thích?"
Lúc ấy nàng đang chỉnh sửa tài liệu cho nhiệm vụ sắp tới, nghe hỏi thì có hơi ngẩn ra, sau đó liền cười nói: "Mình cũng không biết."
"Sao lại không biết?" Miêu Nhi nhón một cái bánh trên dĩa của Tiểu Thi, khịt mũi, "Hừ, không được qua loa cho xong, mau thành thật khai báo."
"Mình à?" Sở Kiều im lặng suy nghĩ một chút rồi mỉm cười nói: "Chắc sẽ đối xử với người đó thật tốt."
"Tốt cỡ nào?"
Sở Kiều khi ấy còn rất trẻ, đã quay đầu nhìn ra bầu trời đêm bên ngoài, nghiêng đầu ngẫm nghĩ một lúc, cuối cùng mới nhẹ giọng nói: "Rất rất tốt."
Rất rất tốt...
Sở Kiều xoay người kéo cương ngựa, chú ngựa ngoan ngoãn đi đến, nhẹ nhàng cọ cọ mặt nàng, mắt lộ chút lo lắng.
"Ha ha." Bị cọ ngứa, Sở Kiều không khỏi bật cười một tiếng. Đây là Lưu Tinh, Gia Cát Nguyệt đã nuôi nó nhiều năm, bây giờ được trả lại cho nàng, vẫn còn thân thiết như xưa.
Nàng đưa tay đẩy nó ra, hơi khàn giọng nói: "Lưu Tinh, chớ quậy nữa."
Khi ống tay áo không cẩn thận quẹt trúng mặt, Sở Kiều mới sửng sốt nhận ra mặt mình đầy nước mắt. Nàng quay đầu nhìn Lưu Tinh, chú ngựa đang hất đầu về phía Bắc, thở phì phì, tựa như muốn chở nàng đi đuổi theo người nào đó.
"Được rồi, được rồi." Nàng vuốt ve đầu chú ngựa, áp mặt lên cổ nó dịu dàng trấn an nó. So với ngựa chiến thì Lưu Tinh cũng đã hơi già, giống như trái tim hiện tại của nàng vậy, đã già cỗi và đầy thương tích.
"Chúng ta đi thôi." Sở Kiều ngồi lên lưng Lưu Tinh, thúc ngựa chậm rãi đi về phía Nam.
Trăng sáng chiếu lên người nàng kéo thành một cái bóng thật dài, chim rừng đang ngủ đêm bị vó ngựa của nàng kinh động, bay nháo nhác. Thân ảnh thiếu nữ càng lúc càng nhỏ dần, cuối cùng khuất dạng sau sườn núi quanh co.
Chương 168: Bình nguyên nổi gió
Trước cơn bão lớn luôn là khoảng yên bình đến dị thường. Đầu tháng giêng, năm mới vừa đến nên toàn thành Chân Hoàng chìm đắm trong tiếng cười nói hân hoan. Trận tuyết to rơi một đêm đã phủ trắng thành, kéo dài đến vạn dặm. Ngoài thành chợt xuất hiện một nhóm nhân mã nhanh chóng phi về phía cổng thành, từ xa thủ thành đã thận trọng giơ tay kính chào theo nghi thức quân đội, mãi đến khi vó ngựa biến mất ở cuối con phố dài.
Gia Cát Nguyệt theo cửa sau vào phủ, nô tài trong Thanh Sơn viện đều đã chuẩn bị xong từ nhiều ngày trước, người bên ngoài vào hỏi thăm đều bị từ chối khéo. Gia Cát Nguyệt mặt không đổi sắc bước vào viện, cởi áo khoác lông xuống ném cho Hoàn Nhi rồi trầm giọng hỏi: "Người đang ở đâu?"
"Dạ, đang ở bên trong, đã đợi thiếu gia lâu rồi."
Cửa phòng bị đẩy ra, mùi đàn hương lan tỏa khắp nơi, một nam tử áo đen đứng dậy. Nam tử dáng vẻ tuấn tú, thần sắc kiên định, ánh mắt sắc bén, khí tức trầm ổn nhưng vẫn không mất vẻ ung dung phóng khoáng.
Ánh mắt hai người giao nhau, khóe môi luôn lạnh nhạt như băng sương của Gia Cát Nguyệt đột nhiên cong lên nở một nụ cười nhàn nhạt, hắn tiến lên một bước, hai người thân mật vỗ vai đối phương rồi ôm chầm lấy nhau.
"Đi đường thuận lợi chứ?" Gia Cát Nguyệt cởi bảo kiếm bên hông ra, ngồi xuống trên ghế, thoải mái nâng chén trà trước mặt nam tử nọ lên uống một hớp rồi mở miệng hỏi.
Triệu Triệt mỉm cười, nhiều năm sinh sống nơi biên quan, trải qua bao khó khăn thiếu thốn đã khiến nam nhân này thêm mấy phần phóng khoáng tiêu sái, ánh mắt trầm ổn và thâm thúy hơn, không còn bóng dáng của vị hoàng tử kiêu ngạo hống hách khi xưa nữa, "Vẫn ổn, chỉ là không quen mùi phấn hương trong thành, vừa nãy đi ngang qua phố Thập Hoa, bị nhảy mũi hết mấy bận."
Gia Cát Nguyệt nghe nói thì bật cười, "Mấy lời này may mà nói cho ta nghe, nếu là người khác thì chắc đã muốn hung hăng đánh điện hạ một trận rồi."
Triệu Triệt đoạt loại chén trà của mình, liếc mắt đánh giá Gia Cát Nguyệt một lượt rồi thong thả nói: "Lúc này mà còn có thể nói cười như vậy, xem ra thủ đoạn của vị ở Bắc Yến kia không hề khiến ngươi bận tâm."
Gia Cát Nguyệt đang uống trà, nhướng mày mỉm cười nói: "Điện hạ cũng cảm thấy là do bên đó động tay động chân?"
"Rõ ràng như thế mà còn phải hỏi?" Triệu Triệt cười lạnh, "Trận Bắc Phạt đầu tiên, Hoài Tống bí mật viện trợ lương thảo cùng quân nhu cho Bắc Yến, để Bắc Yến mượn thủy lộ Nam Cương đi vòng đến Tây Bắc. Lần Bắc Phạt thứ hai, Hoài Tống nhiều lần đúng lúc tiến hành luyện diễu binh ở biên giới phía Đông để phân tán sự chú ý của chúng ta đối với Bắc Yến. Bắc Yến và Hoài Tống tuyệt đối có phương thức liên lạc bí mật mà không ai biết, chỉ là ta vẫn chưa rõ đến tột cùng là ai mới có thể tác động Nạp Lan trưởng công chúa ra mặt phối hợp với Bắc Yến thi triển kế sách giật dây như vậy."
"Không cần biết là ai, chỉ cần biết mưu đồ đích thực của bọn họ thì cũng dễ đối phó thôi." Gia Cát Nguyệt hờ hững nói, tựa như không thích thú việc phải phí thời gian vào đề tài này cho lắm, rồi thuận miệng tiếp lời hỏi: "Tình hình Đông Bắc gần đây ra sao, điện hạ chuẩn bị thế nào rồi?"
Nói đến thế cục Đông Bắc, trên mặt Triệu Triệt không tự chủ lộ vài phần kiêu ngạo, ung dung nói: "Ngươi không cần phải lo lắng, Đông Bắc do ta quản đã sớm vững vàng như thép, thương đạo Nhu Lan đã được khai thông, đã bắt đầu mua bán với người Hồ người Nga ở Tây Vực. Đông Bắc đất đai rộng rãi, hoang sơ nhưng màu mỡ, người dân không những chất phác mà còn anh dũng. Chúng ta đã bí mật xây dựng suốt hai năm, hiện giờ toàn Đông Hồ đều nằm trong tay ta, cũng đạt được chút thành tựu bước đầu, tin rằng không quá năm ba năm nữa sẽ phát triển không kém bổn thổ Đại Hạ."
"Điện hạ âm thầm di dời dân chúng, phía trên không phát hiện sao?"
"Chuyện này nhắc đến đúng là khổ cho Ngụy Thư Diệp, cũng nhờ có hắn ở trên triều chu toàn cho ta, cộng thêm Đông Hồ quả thực quá xa xôi, lại bị dãy Bạch Nga ngăn trở, dân chúng ở đó lại hỗn tạp nên trước giờ vẫn không được phía trên coi trọng."
Gia Cát Nguyệt gật đầu, trầm giọng nói: "Vậy thì tốt."
Triệu Triệt thở dài, vỗ vỗ vai Gia Cát Nguyệt, ánh mắt thoáng xẹt qua chút tang thương rồi trở lại bình thường, mỉm cười nói: "Ngươi cũng xem như tận tâm tận lực với Đông Hồ, nếu có thời gian thì đến thăm một chút, ngươi và A Nhu cũng đã lâu không gặp rồi."
Gia Cát Nguyệt nghe nói liền nhếch môi cười, trêu đùa: "Vậy phải chờ xem công lực của điện hạ thế nào, nếu nàng nhìn thấy ta còn la hét đòi giết đòi báo thù thì xin miễn, ta đây cũng không dám tự mình đi tìm rủi ro đâu."
Triệu Triệt cười to, "Ngươi làm nhiều việc ác, bị báo ứng như thế cũng đáng đời."
Lò than cháy bập bùng tỏa hơi ấm khắp phòng, thời gian như nước chảy, thoáng cái mà đã hai năm, hai nam nhân từng trắng tay lại có cơ hội ngồi cùng một nơi, không khỏi sinh ra cảm khái nhân sinh phù du.
Năm đó Triệu Dương thất bại trong trận Bắc Phạt lần thứ nhất, Triệu Tề chết thảm, đế quốc cùng đường liền dứt khoát ném Gia Cát Nguyệt và Triệu Triệt ra chiến trường. Hai người mang tàn binh bại tướng còn sót lại một đường hành quân đến thẳng Nhạn Minh Quan tiến hành phản kích, bắt đầu trận Bắc Phạt lần hai.
Suốt một năm, bọn họ từ tử địch suốt ngày hằm hè đã dần dần trở thành chiến hữu thân cận. Cuộc chiến tàn khốc đẫm máu kia đã hun đúc nên tình hữu nghị bền vững như sắt thép giữa các nam nhân, cũng như đã trui trèn nên mối đồng minh kiên cố nhất đại lục Tây Mông. Cùng trải qua quan lộ gập ghềnh khó dò, hai người không khó phát hiện bọn họ có cùng nhận thức, từ ban đầu dò xét, phòng bị rồi dần đến kinh ngạc, thưởng thức, tin tưởng lẫn nhau, thậm chí còn nhiều lần cùng sinh cùng tử.
Đến khi Gia Cát Nguyệt bị dồn ép phải chạy đến thành Cống Duyệt, sống chết không rõ còn Triệu Triệt bị đế đô tước binh quyền thì bọn họ mới tạm thời mất liên lạc với nhau.
Sau khi trở lại thành Chân Hoàng, Triệu Triệt cũng không hề hối hả phủi sạch quan hệ với Gia Cát Nguyệt, ngược lại vẫn thúc đốc nhân mã của mình ở Bắc Yến ra sức tìm kiếm cứu hộ, hơn nữa còn ở trên triều cố vãn hồi danh dự cho Gia Cát Nguyệt. Thế nhưng chuyện xảy ra hết sức đột ngột, dưới tình cảnh văn võ cả triều đều phẫn nộ, Triệu Triệt không thể tránh khỏi bị liên lụy, cuối cùng bị đày đi trấn thủ biên cương Đông Bắc cằn cỗi cực hàn.
Nhân tình thoáng ấm rồi lại thoáng lạnh lại một lần nữa khiến cho Triệu Triệt nhìn rõ sự bỉ ổi thối nát của vương triều Đại Hạ. Nhìn tình cảnh cha mẹ huynh đệ vẫn có thể sát hại lẫn nhau, hắn chán nản lên đường đi Đông Bắc, khi gần đến nơi lại gặp được Gia Cát Nguyệt từ vạn dặm xa xôi đuổi đến.
Đứng giữa trời băng đất tuyết lộng gió, hai vị công tử thế gia mất đi tất cả đã cùng nhau lập lời thề son sắt, cũng như đồng lòng sẽ tương trợ khi đất nước lâm nguy.
Khi ấy, bọn họ một Bắc một Tây, tích cực bôn tẩu, giúp đỡ lẫn nhau, cùng phấn đấu vì nhiệt huyết sâu tận xương dành cho cố quốc. Và Triệu Triệt cũng biết, sở dĩ Gia Cát Nguyệt vẫn một lòng ủng hộ Đại Hạ, nhiều lần trợ giúp Đại Hạ trong chiến trận với Bắc Yến, chủ yếu là vì ân tình với mình.
Gia Cát Nguyệt là một người trong nóng ngoài lạnh, ân huệ nhỏ nhất từ người khác cũng sẽ khiến hắn ghi tạc trong tim.
"Bệnh của hoàng thượng thế nào rồi?"
Triệu Triệt bất giác nhướng mày, hờ hững nói: "Đang trong tình trạng nguy kịch, có lẽ không chống đỡ được lâu nữa."
Gia Cát Nguyệt hơi nhíu mày, trầm giọng nói: "Chúng ta vẫn cần thêm thời gian."
Triệu Triệt gật đầu, sau đó khẽ mỉm cười, "Có điều cũng chưa thể khẳng định, mấy năm trước thái y cũng nói ông ta đang nguy kịch, không còn nhiều thời gian, nhưng đã nhiều năm như vậy, ông ta vẫn là người sống thọ nhất, thân là đế vương một nước, sẽ không chết dễ dàng như vậy đâu."
Gia Cát Nguyệt xoay đầu lại, cau mày nói: "Ông ta dù sao cũng là phụ thân của điện hạ."
"Vậy sao, chỉ e ta và ông ta chỉ có cái danh phụ tử mà thôi, còn không thì giống quân thần hơn. Ban đầu nếu không có Ngụy Thư Diệp cầu xin, không chừng ngay cả cơ hội bị đày đi biên cương ta cũng không có, mà trực tiếp bị kéo lên đài Cửu U xử trảm rồi. Tất cả mọi người đều rõ, ông ta ngoài mặt giả mù sa mưa, nhưng thật ra là là người tàn nhẫn hơn ai hết."
Hai năm bươn chải nơi tái ngoại đã khiến Triệu Triệt thêm vài phần trầm ổn, hắn nhìn sang Gia Cát Nguyệt, lẳng lặng hỏi: "Còn ngươi, định ứng phó với chuyện lần này thế nào?"
Gia Cát Nguyệt nhướng mày nhìn sang, "Điện hạ nói thử xem?"
"Muốn nghe thì ta nói, chi bằng ngươi cứ đồng ý kết thân với công chúa Hoài Tống kia, xem bọn họ sẽ có phản ứng ra sao. Không phải bọn họ đang phỏng đoán ngươi sẽ cự tuyệt hôn sự sao, cho bọn họ thất vọng đi vậy."
Gia Cát Nguyệt thoáng nhíu mày, dĩ bất biến ứng vạn biến* quả thực là phương pháp tốt nhất, có điều... Hắn khẽ nhếch môi mỉm cười, thần sắc vẫn ung dung, cũng không đáp lời.
*Dĩ bất biến ứng vạn biến: lấy bình tĩnh chống lại ngàn biến động, lòng ta không "biến" thì ắt không còn bất cứ "vạn biến" nào lung lạc được ta.
"Nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản*, e ngươi bây giờ chính là là đang như vậy. Chuyện đã đến giờ mà ngươi vẫn chưa chết tâm sao?"
*Tình yêu nam nữ quyến luyến với nhau không rời thì sẽ khiến ý phí phấn đấu của nam nhân tiêu tan.
Gia Cát Nguyệt tránh né không trả lời, chỉ nói: "Cũng không hẳn chỉ có cách này, nếu bọn họ đã muốn đùa thì ta đùa bọn họ một phen vậy, vừa vặn thu hút sự chú ý của người khác, cho điện hạ một cơ hội."
Triệu Triệt trầm giọng nói: "Bọn họ lần này dụng tâm như vậy mà ngươi vẫn tìm được kẽ hở thoát thân à?"
"Không có kẽ hở?" Gia Cát Nguyệt cong môi cười lạnh, "Vậy thì tạo kẽ hở chui ra."
Triệu Triệt gật đầu rồi nhanh chóng đứng dậy, tay đặt lên chuôi kiếm, trường bào đen thẫm trên người tăng thêm vẻ uy vũ, hắn trầm giọng chậm rãi nói: "Bày mưu tính kế mãi cũng vô ích, cuối cùng vẫn phải dựa vào đao kiếm nói chuyện mà thôi. Lão Tứ, chúng ta không còn như lúc trước, nếu không được thì không cần phải nhẫn nhịn, cứ thoải mái để lộ thực lực, sẽ không ai dám miễn cưỡng ngươi."
Gia Cát Nguyệt cười nói: "Sao lại nói ta như nữ tử nhu nhược bị bức ép như vậy? Ý tốt của điện hạ ta xin ghi nhớ, lần này điện hạ liều mạng vào thành, hành sự phải cẩn thận."
Triệu Triệt nói: "Ít nhất cũng phải gặp mặt ngươi một lần."
Ngoài cửa vang lên tiếng gõ cửa thật nhỏ, Nguyệt Thất thấp giọng báo: "Thiếu gia, lão gia đã biết người trở lại, trong cung cũng phái người triệu thiếu gia vào cung."
Triệu Triệt cầm áo lông khoác lên người, lật mũ trùm kín đầu không lộ mặt, trầm giọng nói: "Ta đi đây, một mình ngươi phải cẩn thận."
"Điện hạ cũng vậy, hãy dùng mật đạo mà đi, bảo trọng."
Hai người gật đầu với nhau, Triệu Triệt kéo cửa theo mấy người Hoàn Nhi rời đi, khuất dạng trong gió tuyết đầy trời.
"Thiếu gia." Nguyệt Thất đi vào, nhìn thấy Gia Cát Nguyệt đứng trong phòng, sắc mặt trầm tĩnh, không rõ là đang nghĩ gì.
Cảm giác có bằng hữu quả nhiên thật tốt.
Hắn từ trước đến nay luôn là người xa cách khó gần, ngay cả với huynh đệ trong gia tộc cũng không có chút tình cảm thân cận. Hiện tại trong thành canh phòng cẩn mật như vậy mà Triệu Triệt vẫn có thể mạo hiểm đến gặp hắn, thật sự không khỏi khiến hắn cảm động.
"Thiếu gia? Thời gian không còn sớm." Nguyệt Thất nhắc nhở.
Gia Cát Nguyệt đột nhiên khẽ cười một tiếng, sau đó trầm giọng nói: "Chuẩn bị xe."
Nguyệt Thất nhất thời sửng sốt, "Thiếu gia muốn đi đâu?"
"Vào triều."
"Vào triều?" Nguyệt Thất sững sờ hỏi: "Thiếu gia không cần tắm rửa thay y phục rồi mới diện thánh sao? Hơn nữa, thiếu gia là Tư Mã, võ tướng không thể ngồi xe, nên cưỡi ngựa mới đúng."
Gia Cát Nguyệt cúi đầu, trong mắt chậm rãi lộ ra vẻ lạnh lẽo bức người, khinh thường chậm rãi nói: "Ta không chỉ là Tư Mã của Đại Hạ mà còn là phiên vương tay cầm năm mươi vạn binh mã Thanh Hải, ta nghĩ bọn họ chắc đã quên điểm này rồi."
Ánh mặt trời xuyên thủng tầng mây, Gia Cát Nguyệt bước ra khỏi phòng, Phương Chử ở phía sau khoác áo lông lên vai hắn. Mười tám cánh cổng lớn của Gia Cát gia đồng thời được mở rộng đón chào ánh sáng, Gia Cát Nguyệt mặt như quan ngọc, môi đỏ như chu sa, sống lưng thẳng tắp, ung dung rời khỏi phủ Gia Cát. Ngoài cửa phủ có nhóm quan viên đứng tụ một chỗ, nhìn thấy Gia Cát Nguyệt đi ra lập tức chen lên, các Nguyệt Vệ liền bước ra, một mực giữ khoảng cách một trượng ngăn bọn họ với Gia Cát Nguyệt.
Gia Cát Nguyệt mắt nhìn thẳng, giẫm lên bục đá ngồi vào cỗ xe ngựa tráng lệ được kéo bởi tám bảo mã, lẳng lặng ra lệnh: "Đi."
"Thiếu gia muốn đi đâu ạ?" Phu xe quay đầu hỏi.
Phương Chử mặt không đổi sắc bình tĩnh trả lời thay, "Cung Thịnh Kim."
Gió lạnh luồn vào trong xe, Gia Cát Nguyệt trầm tĩnh tựa vào thành xe lót nệm mềm.
Bản lĩnh khuấy đục nước của hắn chưa bao giờ kém, đã như vậy thì hắn sẽ khiến cho ván cờ này càng thêm khó đoán, ai cũng đừng mong chỉ lo cho thân mình, đứng ngoài cuộc bàng quan nhìn.
Chương 169: Người thương đi xa
Bóng đêm phủ xuống, vòng ngoài buổi yến tiệc còn chưa dứt thì vòng trong đã bắt đầu. Biện Đường dẫu có khí hậu ôn hòa nhưng vào tháng giêng vẫn khá lạnh, ban đêm gió thổi, khoác áo choàng vẫn bị hàn khí làm lạnh sống lưng. Vừa quá trưa thì trời đổ mưa rả rích mãi tận đêm mới dừng, cho nên không khí khi đêm đến càng thêm lạnh lẽo.
Trời lạnh nhưng chúng phu nhân vẫn đầu tóc vấn cao, xiêm y lả lướt thản nhiên để lộ gần nửa khuôn ngực trắng như tuyết, ánh mắt mị hoặc đưa tình. Thỉnh thoảng có phu nhân to gan, trên đường tiến lên mời rượu còn cố tình vén váy để lộ một phần bắp chân nhẵn mịn.
Lý Sách đã uống rất nhiều rượu, híp mắt dựa vào lưng ghế êm ái. Cửa điện Nhu Phúc mở rộng, đại sảnh rực rỡ ánh đèn, nhạc sư giữa điện gảy đàn, tiếng nhạc du dương uyển chuyển theo gió đêm xoay chuyển khắp nội điện. Nhóm vũ cơ uốn lượn eo thon, đôi chân thon dài không ngừng khiêu khích, mồ hôi rịn ra phủ lên làn da óng mịn như mật ong. Một vũ cơ to gan xoay một vòng lớn rồi thuận thế nằm vào lòng Lý Sách, đuôi mắt nhướng cao, đôi môi nũng nịu khẽ dẩu, cần cổ thon dài, xiêm y mỏng manh không che nổi hai bầu ngực tròn.
Vũ cơ nọ giơ cánh tay trắng nõn bưng ly rượu nho thơm nồng lên, cổ tay nhẹ nghiêng chén khiến rượu đổ xuống phần cổ duyên dáng, sau đó chảy xuống giữa hai đồi tuyết trắng.
"Hoàng thượng, ngài say rồi sao?" Quả nhiên mỹ nhân hiếm có, thân hình mềm mại không xương của vũ cơ cọ cọ trong lòng Lý Sách, đôi môi son khẽ hé, nũng nịu thỏ thẻ, vừa nói vừa luồn tay vào trong vạt áo hắn, đi nửa đường thì dừng lại, khẽ nhướng đuôi mắt khiêu khích nhìn lên.
Vũ cơ này chính là phu nhân Tử Minh được sủng ái nhất cung Kim Ngô một năm nay. Lý Sách tính phong lưu, chưa bao giờ sủng ái người nào quá một tháng, nhưng vị phu nhân xuất thân từ một thế gia suy tàn này lại thịnh sủng không suy suốt cả năm, có thể thấy được người này có sức quyến rũ đặc biệt đến cỡ nào.
Lý Sách nhướng ánh mắt ngà ngà say nhìn xuống, hắn mặc cẩm bào tím quý giá, cổ áo viền lông chồn đen nhánh, vạt áo mở rộng để lộ một phần ngực, vô cùng tà mị.
Theo thói quen, nam nhân khẽ nheo mắt, mi tâm hơi chau lại, đáy mắt thoáng dao động, dáng vẻ như một con hồ ly đang suy tư.
Chúng vũ cơ trẻ tuổi trên điện vẫn xoay tròn vũ điệu Đông Hồ, động tác phóng khoáng càn rỡ, y phục lụa mỏng trên người chỉ đủ che những chỗ kín, phần da thịt để hở rịn ướt mồ hôi.
"Hoàng thượng, người đã nửa tháng không đến điện Nhu Phúc, có phải chưa gì đã muốn quên nô gia rồi không?" Phu nhân Tử Minh nhẹ nhàng rướn mặt lên, sóng mắt long lanh nhìn Lý Sách, thần thái mê hoặc tựa yêu tinh.
Ánh mắt Lý Sách như đã ngà ngà say, nhưng giữa mi tâm vẫn rõ ràng hơi chau.
Móng tay sơn đỏ của nữ tử lướt qua phần bụng nam nhân, nhẹ nhàng xoa xoa mi tâm hắn, thỏ thẻ bên tai hắn, hơi thở thơm ngát hương lan, "Có ai đó làm hoàng thượng không vui sao?"
Lý Sách cong môi, lẳng lặng nở một nụ cười rồi đưa tay ôm vòng eo nhỏ nhắn, vuốt ve phần da thịt trắng mịn của phu nhân Tử Minh, cười nói: "Tiểu yêu tinh."
"Tối nay hoàng thượng có nhẫn tâm để Minh Nhi phòng đơn gối chiếc nữa không?"
Trên mặt Lý Sách thoáng lộ ra một tia hoảng hốt, trong đầu lặng lẽ hiện lên một hình bóng. Hắn phiền não nhíu mày, bất giác không thể duy trì vẻ thong dong vốn có.
Hắn đã điên nửa tháng rồi, còn muốn tiếp tục điên nữa sao?
Lý Sách quay đầu nhìn khuôn mặt mỹ lệ của phu nhân Tử Minh, đáy lòng chợt dâng lên sự khó chịu lấn át một loại cảm xúc khó tả bằng lời, vừa như khổ tâm, vừa như khát vọng, khiến mọi vui buồn thống khoái gì đó đều bay biến. Nhưng chỉ trong thoáng chốc, hắn lại nở nụ cười tà mị, khôi phục thần sắc thường ngày, mỉm cười nói: "Trẫm có khi nào mà không thương hương tiếc ngọc cơ chứ?"
"Hoàng thượng." Từ ngoài điện đột nhiên truyền vào một giọng nói vô cùng bình tĩnh khiến Lý Sách ngẩng đầu lên nhìn. Thiết Do đang đứng ngoài cửa, bộ giáp trụ trên người hoàn toàn đối lập với đại điện hoa lệ, hắn cười một tiếng chào hỏi rồi không hề để ý đến vẻ mặt của chúng nữ nhân xung quanh, quỳ xuống lanh lảnh cất tiếng nói: "Hoàng thượng, Sở cô nương đã trở lại."
Lý Sách thoáng sửng sốt, vẻ mặt vẫn không đổi nhưng ly rượu trong tay lại khẽ nghiêng, khiến rượu trong chén suýt nữa thì đổ ra ngoài.
Xa xa văng vẳng tiếng người thánh thót, âm điệu ngân dài tựa như một khúc hát du dương. Gió từ bên kia mặt hồ thổi qua mang theo khí lạnh cùng hương thơm nhàn nhạt, thân hình cao thon, mái tóc đen nhánh, ánh đèn rực rỡ của đại điện khiến Lý Sách tuấn tú một cách dị thường.
"Từ lúc nào?"
"Mới vừa nãy thôi."
"Bây giờ đang ở đâu?"
"Đã trở về Mật Hà cư rồi ạ."
"Đi thôi." Lý Sách đứng dậy rồi bước ra ngoài.
Thiết Do thoáng ngớ ra rồi vội vàng hỏi: "Hoàng thượng muốn đi đâu?"
"Mật Hà cư." Tiếng nói của Lý Sách văng vẳng trong màn đêm thấm đẫm mùi vị xa hoa, Thiết Do lập tức hối hả mang các thị vệ chạy theo.
Phu nhân Tử Minh chậm rãi đứng dậy, vạt áo lụa mỏng nhẹ nhàng phe phẩy trong gió đêm, nhưng vẻ phong tình quyến rũ như vừa rồi đã không còn. Nàng điềm nhiên nhìn theo bóng dáng dần rời xa của Lý Sách, ánh mắt lấp lánh một cách lạnh lùng, không vui cũng không buồn.
"Phu nhân." Thị nữ cẩn thận tiến lên gọi.
Phu nhân cầm lấy áo choàng trong tay thị nữ khoác lên người, lẳng lặng khoát tay, "Lui xuống hết đi."
Chúng cung nhân đều tản đi, gian điện mờ ảo huân hương cùng mùi rượu thơm nồng, thoáng cái chỉ còn lại nhạc sư đang xướng nốt bài hát còn dang dở.
Sen trong hồ đã sớm tàn lụi, tán ngô đồng trước cửa cũng đã rụng hết lá, vầng trăng khuyết trên cao lặng lẽ vẩy ánh sáng bạc xuống trên thềm đá bóng bẩy.
................................................................................................................................
Rèm cửa bị vén lên phát ra tiếng động *loạt xoạt* rất khẽ, Thu Tuệ gác đêm ngoài phòng giật mình tỉnh giấc. Lý Sách ra hiệu chớ lên tiếng khiến tiểu nha hoàn lập tức cúi đầu quỳ xuống, không dám nói tiếng nào.
Trời trở lạnh nên cửa sổ trong phòng đều được đóng kín, nhưng ánh trăng bàng bạc vẫn có thể luồn qua khe cửa chiếu vào phòng. Sở Kiều đang ngủ, chăn gấm đắp kín người, chỉ để lộ cái đầu nhỏ nhắn, chân mày thả lỏng, thần thái cũng mang vẻ bình yên hiếm thấy. Lý Sách tựa vào khung cửa, hơi nghiêng đầu đứng đó, nhất thời không hề nhúc nhích.
Xem ra, người nọ thật sự đúng là lựa chọn tốt nhất cho nàng.
Không có gánh nặng cùng trách nhiệm nặng nề, cũng chẳng có hận thù và chấp niệm sâu sắc, có thể ung dung nói đi là đi.
Lý Sách trầm ngâm nhìn, trong ánh sáng mờ mờ, ánh mắt của hắn lướt qua vầng trán trắng trẻo mịn màng, rơi vào phần tóc đen bóng bên thái dương nàng. Gió chợt nổi lên, ngoài cửa sổ loáng thoáng bóng cây chập chờn, tựa như bàn tay thiếu nữ đang dịu dàng vuốt ve tòa cung điện tĩnh lặng này.
"Dường như cô nương rất mệt, vừa trở về liền đi ngủ ngay." Ở bên ngoài, Thu Tuệ thì thầm với Thiết Do, tiếng nói rất nhỏ nhưng vẫn truyền vào trong tai Lý Sách.
Lý Sách vẫn đứng đó, tựa như vỡ lẽ chuyện gì. Chậu than trong góc phòng lẳng lặng tỏa ra hơi ấm, dạ oanh trên nhánh cây ngoài cửa sổ cất một tiếng hót trong trẻo, nghe thực êm tai.
"Bất kể là thế nào, mệt thì cứ nghỉ ngơi đi." Nam tử nhẹ nhàng buông một câu rồi xoay người ra ngoài, tiếng bước chân của hắn văng vẳng khiến trong điện càng thêm trống trải.
Tiếng bước chân xa dần, Sở Kiều chậm rãi mở mắt ra, trong bóng tối, ánh mắt của nàng càng thêm nặng nề, đầu ngón tay níu chặt chăn gấm, dùng sức đến mức trắng bệch.
Chỉ lát sau, điện Nhu Phúc lại truyền ra tiếng đàn sáo du dương, so với vừa rồi còn tưng bừng hơn.
Đêm càng lúc càng lạnh, nàng từ từ nhắm mắt lại.
Quả thực đã mệt rồi...
.....................................................................................................................
Ba ngày sau, Sở Kiều quyết định rời khỏi Đường Kinh. Không kinh động đến bất kỳ ai, nàng chỉ dẫn theo Mai Hương, trước khi đi cũng có đến chào Lý Sách một tiếng.
Ban đầu Lý Sách cũng chẳng nói sẽ đưa tiễn, nhưng khi xe ngựa của nàng rời khỏi cổng thành, lại thấy dưới tán ngô đồng xa xa có bày một bàn trà tươm tất, Lý Sách đang đứng sau đám người Thiết Do và Tôn Đệ, thấy nàng đến, bọn họ đều đồng loạt lên tiếng chào hỏi.
Chúng thị vệ tản đi, Lý Sách và Sở Kiều ngồi xuống bên bàn trà, sau khi nàng trở lại Biện Đường, đây là lần đầu tiên bọn họ chính thức nói chuyện với nhau.
"Định đi đâu thế?"
"Không biết."
Nhìn thấy ánh mắt hoài nghi của Lý Sách, Sở Kiều đột nhiên bật cười, "Đừng nhìn ta như vậy, không gạt ngươi đâu, ta thật sự không biết đi đâu."
"Không biết mà vẫn muốn đi?"
"Ừ, muốn ra ngoài thăm thú đây đó." Sở Kiều hít một hơi thật sâu, mỉm cười nhìn cảnh vật nên thơ xung quanh, thong thả nói: "Ngươi nhìn đi, trời sắp ấm áp hơn rồi, Tây Mông rộng lớn như vậy, ta trước giờ vẫn không có cơ hội du ngoạn, lần này xem như rốt cuộc có thể thả lỏng tâm tư mà đi."
Lý Sách thuần thục pha trà, vừa làm vừa nói một cách chân thành: "Dự định đi bao lâu?"
"Chưa biết, xem tâm tình thế nào mới tính, không chừng ngày nào đó nghèo không xu dính túi phải trở về tìm ngươi lừa bữa cơm, cho nên ngươi phải làm hoàng đế cho tốt, chớ để ta trở lại thì không còn chỗ ở nhờ đấy."
Lý Sách nghe vậy thì vội vàng cầm lấy phong bì nằm ở góc bàn, rút ra một xấp ngân phiếu, lấy hơn phân nửa nhét vào trong ngực, lầm bầm: "Nghèo đến không xu dính túi mới trở lại? Thế thì không thể cho quá nhiều tiền, bằng không ai biết đến lúc trở về thì đã trở thành bà già lọm khọm rồi."
Sở Kiều bật cười, "Xem đức hạnh của ngươi kìa, có chỗ nào giống hoàng đế chứ?"
"Có quy định làm hoàng đế thì không được phép keo kiệt sao? Nàng không biết ta sống kham khổ thế nào đâu, ta vừa muốn tiêu pha nhiều một tí thì đám lão già kia liền cả ngày bám đuôi khóc than cái gì phía Đông hạn hán phía Tây có người chết đói, chỉ hận không thể bắt ta ngày ngày gặm cải trắng cho qua bữa mà thôi, cả đám thần tử mà chẳng có nổi một ai tốt. Chút tiền này đều là ta bóp bụng dành dụm được đấy, nàng không biết ơn thì thôi, còn ở đó chê cười?"
Bầu trời ở Biện Đường vừa cao rộng vừa hết sức quang đãng, trải dài vạn dặm không một bóng mây, ánh mặt trời rọi vào đôi mắt như hồ ly của Lý Sách, nhìn càng thêm giảo hoạt.
Sở Kiều không khỏi thở dài giùm cho toàn bộ văn võ bá quan của Biện Đường, "Gặp phải vị hoàng đế như ngươi, không biết bọn họ đã tổn hết bao nhiêu năm tuổi thọ rồi."
Lý Sách than ngắn thở dài một bận rồi lắc đầu, "Kiều Kiều thực ác mà, không nói tiếng nào đã dứt khoát rời đi như vậy, đám Hạ Tiêu nhất định sẽ liều mạng với ta."
Nghe nhắc đến Hạ Tiêu, Sở Kiều cũng chợt ngẩn ra, suy nghĩ một lúc lâu mới chậm rãi nói: "Lý Sách, các tướng sĩ của Tú lệ quân phải phó thác cho ngươi rồi."
"Bọn họ đều là nam nhân, nàng phó thác cho ta làm gì?"
Sở Kiều cũng không buồn để tâm đến lời lẽ càn rỡ của hắn, tiếp tục nói: "Mấy tháng nay ta vẫn luôn nghĩ, ta đến cùng có phải đã sai lầm rồi hay không? Đều do ta quá ngây thơ, tự cho rằng mình có thể thay đổi xã hội này, tự tin bản thân có thể thành lập một chế độ mới tốt hơn. Không phải như khẩu hiệu thiên hạ đại đồng của Đại Đồng Hành, ta chỉ muốn người nghèo có cơm ăn áo mặc, không cần phải nô dịch người khác, hy vọng giai cấp cầm quyền như các ngươi có thể thiết lập được điều luật, bất kể là ai thì cũng không được tùy tiện giết người. Ta biết, xã hội không thể thay đổi nhanh như vậy, nhưng ít nhất phải có người thử cố tạo đường, chỉ cần đi được một bước nhỏ thì sớm muộn gì cũng sẽ có bước dài hơn.
Lúc mới bắt đầu, ta cũng không có lý tưởng vĩ đại như vậy, ta chỉ là muốn bỏ chạy, an ổn sống cuộc sống của mình. Nhưng ta lại quen biết Yến Tuân, những lời tán dương Bắc Yến từ miệng Yến Tuân đã khiến ta bừng bừng sức sống, khiến ta nghĩ rằng, bản thân đi đến thế giới tối tăm này có lẽ có nguyên do riêng, có lẽ đều là thiên ý. Thế nhưng, bây giờ nguyện vọng của ta tan vỡ, chính là vì ta quá kiêu ngạo, ta cho rằng bản thân rất giỏi, khả năng rất cao, có thể thay đổi mọi chuyện, có thể bảo vệ rất nhiều người. Nhưng đến cuối cùng ta mới nhận ra, sức lực của bản thân ta thật ra rất nhỏ bé, người thân và bằng hữu đều lần lượt rời bỏ ta, ta chẳng những không bảo vệ được bọn họ mà còn hại chết rất nhiều người."
Lý Sách hơi chau mày, vừa định lên tiếng thì lại bị Sở Kiều ngăn cản, nàng nhìn thẳng vào mắt hắn, lẳng lặng nói: "Lý Sách, ta không phải là một lãnh tụ tốt, các chiến sĩ của Tú lệ quân không có tín ngưỡng của riêng mình, tính ngưỡng của bọn họ chính là sự tin tưởng dành cho ta. Nhưng sự tồn tại của ta lại hết lần này đến lần khác đẩy bọn họ vào hiểm nguy cùng chiến tranh loạn lạc, khiến bọn họ đổ máu mất mạng, mà những điều ta từng hứa hẹn với họ, một xã hội mới cùng cuộc sống tốt đẹp, mãi mãi không thể thành hiện thực. Ta chỉ cứu bọn họ một lần, không thể ích kỷ muốn bọn họ bán mạng đấu tranh vì mình như vậy. Ta thậm chí từng nghĩ, nếu như lúc đầu ta nghe theo Yến Tuân giải tán Tú lệ quân, có lẽ sẽ không chết nhiều người như vậy, những người đó, nếu còn sống thì bây giờ có thể đã kết hôn, sống một cách an ổn rồi."
Giọng Sở Kiều dần trở nên nghẹn ngào, nàng mím môi, hốc mắt hơi ửng đỏ, nhưng vẫn cười nói: "Đâu phải ai cũng nhất định cần làm nên nghiệp lớn gì đó, trưởng thành cưới vợ rồi sinh con, vui vẻ đến già cũng là một cách sống. Chỉ tiếc, ta tỉnh ngộ quá muộn, người đã chết thì có làm gì cũng không thể sống lại, tay ta đã nhuốm đầy máu tanh, rửa thế nào cũng không sạch."
"Kiều Kiều?" Lý Sách nhíu chặt mày, trầm giọng nói: "Không phải lỗi của nàng."
"Nhưng trách nhiệm vẫn là ở ta, trốn tránh không khỏi." Sở Kiều thấp giọng nói: "Bọn họ tin tưởng ta, một lòng đi theo ta nhưng ta lại không thể bảo vệ bọn họ, rất nhiều người đã chết mà ta thậm chí cũng không cách nào an táng thi thể họ tử tế. Ngươi có biết không, hằng đêm ta vẫn có thể nghe được tiếng gào khóc của bọn họ, bọn họ nói muốn trở về nhà, muốn gặp cha mẹ của mình, bọn họ đều chỉ mới mười lăm mười sáu tuổi, vốn nên ở nhà tận hưởng sự thương yêu chiều chuộng của cha mẹ, nhưng lại bởi vì ta mà phải vùi thân trong đồng hoang gió rét."
Mặt Lý Sách không còn vẻ bông đùa thường ngày, hắn lo lắng nhìn nàng, tim khẽ nhói đau.
"Lý Sách, hãy giúp chăm sóc bọn họ thật tốt. Nếu ngươi không yên tâm thì có thể giải tán đội ngũ, cho phép bọn họ ở lại Biện Đường, an bài công việc nhẹ nhàng một chút, để bọn họ cưới vợ sinh con, sống một cuộc sống thoải mái, không cần phải ra chiến trường nữa. Đối với binh lính mà nói, trên chiến trường không có thắng lợi, thắng lợi đều thuộc về tướng quân, cái mà binh lính đối mặt, chẳng qua chỉ có chém giết và chết chóc mà thôi."
Lý Sách khó nhọc gật đầu, hắn nhìn sắc mặt tái xanh cùng thân hình gầy gò của người trước mặt, nhẹ giọng hỏi: "Vậy còn nàng? Còn hận Yến Tuân không? Còn có thể trở lại bên cạnh hắn không?"
"Đã không còn hận nữa." Sở Kiều khẽ lắc đầu, bình tĩnh mỉm một nụ cười nhẹ nhàng như gió xuân tháng ba, "Thật thì tất cả đều không biết, y mới là người khổ nhất. Ta tận mắt nhìn thấy nỗi hận cùng sự thống khổ mà y phải chịu, chứng kiến mọi sự khuất nhục mà y từng trải qua, người ngoài đều không cách nào hiểu được hận thù trong lòng y sâu đến cỡ nào. Là ta không thể khoan dung được, hôm nay y đã chọn phương thức này, cho dù có sai thì cũng là do vận mệnh đẩy y vào con đường ấy. Ai cũng có quyền chọn đường mình muốn đi, đó là con đường của y, cho dù không cách nào chấp nhận thì ta vẫn tôn trọng sự lựa chọn của y. Trên thế gian này, ai có thể hoàn toàn đúng, ai mới hoàn toàn sai? Chỉ là hai người chúng ta đều có sự cố chấp cùng kiên trì riêng của bản thân, không thể tiếp tục đồng hành nữa nhưng cũng không nhất định phải đối nghịch thành thù."
"Vậy còn Gia Cát Nguyệt? Tại sao nàng không đi với hắn? Hắn đã vì nàng làm nhiều chuyện như vậy... nàng không yêu hắn sao?"
"Yêu? Có lẽ cũng có." Sở Kiều khẽ cười, "Ta thật ra cũng không rõ sao mới chân chính gọi là yêu, nhưng dẫu yêu cũng đâu nhất định phải ở cùng nhau, có nhiều khi, buông tay cũng là một loại yêu."
Sở Kiều hơi ngước mặt lên, gió phả lên vầng trán mịn màng của nàng. Trong nháy mắt đó, Lý Sách tựa như bắt gặp một tia sáng lóe lên trong đôi mắt thản nhiên của nàng, đẹp đến độ khiến người nhìn mê mẩn.
"Hắn dù sao cũng là đại tư mã của Đại Hạ, không khác gì bộ trưởng bộ quốc phòng của một nước, sao có thể ở cùng với người như ta."
Nàng lại lẩm bẩm, "Lý Sách, ta biết, chỉ cần ta nguyện ý, hắn sẽ vì ta mà vứt bỏ mọi vinh hiển. Nhưng đó có phải là lựa chọn tốt nhất không? Hắn chịu bao khổ nạn cùng đau đớn, cuối cùng mới có thể đập vỡ mọi khuất nhục áp đặt lên đầu mình để bước lên vị trí hiện tại. Hắn và ta không giống nhau, cho dù quốc gia hủ bại, gia tộc tàn nhẫn, hắn vẫn là người có nhà có quê hương, đương nhiên sẽ có một loại ý thức trách nhiệm, cho dù nó cũng chính là gánh nặng áp đảo mọi tình cảm khác. Nếu bây giờ chỉ vì ta mà bắt hắn phải rũ bỏ mọi thứ, theo ta lưu lạc khắp chốn, ngươi cảm thấy về sau hắn sẽ thật sự vui vẻ sao? Sẽ không, hắn là nam nhân, nam nhân hẳn có vùng trời của riêng mình, theo dòng thời gian, khi hắn dần già đi, tương lai hắn sẽ hiểu rõ mọi thứ, cũng sẽ cảm thấy may mắn vì đã không chọn sai."
"Huồng hồ, ta cũng đã mệt mỏi rồi." Sở Kiều cúi đầu xuống, mỉm cười nhìn về phía Lý Sách, "Ta đã bôn ba hơn mười năm, không còn dũng khí tiếp tục đi trên con đường mà bản thân không thấy rõ điểm cuối nữa. Ta rốt cuộc cũng chỉ là một nữ nhân, cũng sẽ có thời điểm muốn dừng chân nghỉ ngơi."
"Kiều Kiều." Lý Sách thở dài, bất đắc dĩ nói: "Ta có làm gì cũng không ngăn được nàng đi, có đúng không? Nàng đã quyết tâm rồi, có đúng không?"
"Ừ." Sở Kiều nói rất chân thành: "Không cần lo lắng cho ta, ta sẽ ổn thôi. Thế giới này không phải chỉ có hoàng thân quốc thích hay quý tộc thế gia nắm trọng quyền mới sống được, ta sẽ làm một thường dân, không có gánh nặng, không có trách nhiệm, sống một cuộc sống thật yên bình. Mỗi ngày trôi qua một cách nhẹ nhàng, muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, cuộc sống tự do tự tại như thế, ta đã mong ước rất nhiều năm rồi."
"Vậy nàng có trở lại không? Thỉnh thoảng trở lại thăm ta?"
"Dĩ nhiên." Sở Kiều bật cười, nói giọng đương nhiên, "Ngươi là bằng hữu quan trọng nhất của ta mà."
Lý Sách cười khổ, đưa tay vuốt phần tóc bị gió thổi rối của nàng, nói: "Cái đồ cứng đầu này, khiến ta cũng đa sầu đa cảm theo."
Sở Kiều đứng dậy đi đến bên cạnh Lý Sách, Lý Sách cũng đứng dậy, Sở Kiều giang hai tay ra ôm lấy hắn, nhẹ giọng nói: "Lý Sách, ta đi đây. Tây Mông càng ngày càng loạn, ngươi nhớ giữ mình, đừng để ta phải lo lắng."
Trong lòng rất buồn bã nhưng Lý Sách vẫn giữ giọng điệu thản nhiên, "Ta có thể xảy ra chuyện gì chứ? Ta đường đường là đại hoàng của Biện Đường, ai động đến ta? Chưa kể, nam nhân anh tuấn tuyệt luân như ta, ai dám phí của trời mà chà đạp ta chứ, cả thiên hạ cũng chỉ có mình nàng mới không có mắt nhìn hàng tốt như vậy thôi."
Sở Kiều không khỏi phì cười, "Đúng, đúng, ngươi anh tuấn tuyệt luân nhất thế gian, Leonardo gặp ngươi cũng phải xấu hổ nhảy lầu tự sát được chưa?"
"Leonardo là ai? Cái tên thực kỳ quái, người phiên* à?" Lý Sách cau mày hỏi.
*Người phiên: người ngoại biên, thuộc một vùng đất khác
Sở Kiều bật cười lớn, "Ừ, là một người phiên rất tuấn tú."
"Đi so sánh ta với người phiên, quả thực không ra thể thống gì mà."
Sở Kiều ha ha cười to, tiếng cười quanh quẩn trong không trung, bao phủ lấy hai người.
"Không còn sớm nữa, ta đi đây." Sở Kiều không cưỡi ngựa mà thuê một chiếc xe ngựa ngồi cùng với Mai Hương.
Lý Sách mỉm cười, một thân trường bào đỏ thẫm đứng dưới gốc ngô đồng, thoạt nhìn đúng thật như lời hắn nói, vô cùng anh tuấn tuyệt luân, "Kiều Kiều, đi đường cẩn thận, trước ba mươi tuổi mà vẫn không ai thèm lấy thì có thể trở về tìm ta."
Sở Kiều lên xe rồi vén rèm thò đầu ra, phất tay nói: "Nhờ lời vàng miệng ngọc của ngươi, ta nhất định sẽ tìm được nơi gửi gắm bản thân trước ba mươi."
Rèm cửa xanh thẫm phủ xuống, xe ngựa lăn bánh, càng lúc càng xa, cuối cùng biến mất ở cuối con đường rợp bóng ngô đồng.
"Hoàng thượng, có cần phái người đi theo bảo vệ Sở cô nương không?" Tôn Đệ tiến đến, trầm ngâm một lúc lâu rồi thấp giọng hỏi.
"Không cần." Lý Sách nhẹ lắc đầu rồi xoay người đi về phía cổng thành.
Ai cũng có quyền lựa chọn cuộc sống mà mình muốn. Kiều Kiều, nàng đi đi.
Chương 170: Cuộc sống điền viên
"Vượt sông mất 42 ngày, sau khi chiếm được những thành phố lớn như Nam Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán, toàn bộ hai tỉnh Giang Tô, An Huy và phần lớn Giang Tây, Hồ Bắc, Phúc Kiến, để giải phóng toàn bộ Hoa Đông rồi đến Hoa Nam, tiến quân về phía Tây Nam chính là điều kiện tiên quyết."
Khuôn viện ngập trong ánh hoàng hôn, chân trời đỏ rực, ngay cả gốc đa già xù xì cũng như bị nhuộm đỏ. Tháng sáu, trời càng lúc càng nóng, cho dù trong viện có hồ nước thì không khí vẫn rất oi bức.
"Được rồi, nói đến khô miệng luôn, mấy đứa này, chỉ biết quấn lấy tiểu thư là giỏi." Mai Hương bưng một bát sứ đi ra, nàng mặc một bộ y phục thoải mái, ống tay xắn cao đến tận khuỷu, vừa đi vừa dài giọng rao: "Nước ô mai ướp lạnh đây, ai muốn khôôôôôôôông..."
Thanh Thanh nghe vậy liền nhỏm dậy, vỗ tay hoan hô: "Woah! Có nước ô mai uống!" Dứt lời liền vội vàng chạy vào bếp phụ bê nước ra.
"Tiểu thư, em có dùng băng trong hầm ướp lạnh, uống rất mát, người thử xem."
Sau khi rời hỏi Đường Kinh, Sở Kiều không cho Mai Hương gọi mình đại nhân nữa, vốn muốn Mai Hương xem mình như tỷ muội mà xưng hô, nhưng nàng lại chết sống không chịu làm theo. Sở Kiều không thể làm gì khác ngoài để mặc nàng gọi mình tiểu thư.
Nắng chiều vô cùng ấm áp, Sở Kiều không giống như đám người Mai Hương, so với ngày hè ở thế kỷ 21, nhiệt độ bây giờ nhiều nhất cũng chỉ như xuân thu ở kiếp trước thôi, có điều nước ô mai Mai Hương làm quả thực rất ngon, không thể không uống.
"Tỷ tỷ, chỗ đó không phải có phi cơ sao? Tại sao không trực tiếp dùng phi cơ bay qua? Sao còn phải dùng thuyền sang sông nữa?"
Một cánh bướm bay đến, chập chờn lượn quanh khóm lan trong vườn, Sở Kiều ngồi dưới gốc đa, thân mặc áo ngắn tay màu lam nhạt, phía dưới là một chiếc váy dài màu trắng ngà, nhìn vừa thanh lịch vừa thoải mái, "Đa Cát, giải thích cho Bình An nghe đi."
Đa Cát đăm chiêu suy nghĩ một thoáng rồi để chén nước xuống, nói với bộ dạng như rất từng trải: "Phi cơ hẳn là vật hiếm, rất quý giá. Nhưng Tưởng nguyên soái được phương Tây chống lưng nên sở hữu không quân hùng mạnh, còn Mao nguyên soái thì không có sự ủng hộ của nước ngoài, lại tác chiến trong thời gian dài, lại không chọn thành phố lớn làm căn cứ địa, không có trang bị quân sự tiên tiến là chuyện bình thường, vì vậy phe bọn họ có lẽ cũng chẳng có phi cơ hay không quân."
Sở Kiều bưng chén hớp một ngụm, nước ô mai lành lạnh chảy qua cuống họng, mát đến tận phổi. Nàng cười nói: "Đa Cát nói rất đúng, thời điểm đó sức sản xuất không cao, Mao nguyên soái cũng không có thế lực không quân, ban đầu đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến bọn họ phải chịu thương vong cực lớn."
Bình An đột nhiên cảm thán, "Tỷ tỷ, nước Trung Quốc mà tỷ nói, thật lợi hại, y như trong truyện cổ thần thoại vậy. Có thể bay lên trời, có đại pháo bắn một phát là oanh tạc cả một tòa nhà, nếu như bọn họ chạy tới đánh Tây Mông của chúng ta, chỉ cần cho pháo binh nã một phát cũng đủ đánh bại chúng ta. Thiết võ quân của Đại Hạ hay Hắc ưng quân của Bắc Yến gì đó đều không phải là đối thủ."
"Đó đều là thần thoại thôi." Thanh Thanh bĩu đôi môi đỏ ửng vì nước lạnh, vừa tiếp tục nhâm nhi nước ô mai vừa nói: "Thế giới chúng ta sao có vật đáng sợ như vậy chứ?"
Sở Kiều không nói mà chỉ lẳng lặng mỉm cười, Mai Hương rót thêm một chén nước ô mai đưa đến, nàng đón lấy cầm trong tay, cảm nhận hơi lạnh xuyên qua đầu ngón tay lan ra toàn thân, vô cùng dễ chịu.
"Chưa chắc." Đa Cát lắc đầu, hoài nghi nói: "Ba trăm năm trước, đại lục Tây Mông chúng ta còn chưa có thuyền to, hải phận chưa từng xuất hiện chiến tranh. Nhưng bây giờ đại lục đã có thương đội có thể gióng thuyền đến tận chỗ người phiên xa xôi. Chưa kể đến đồ sắt, năm trăm năm trước, tổ tiên chúng ta đánh giặc đều dùng vũ khí bằng đồng, đao kiếm gì đó đều rất mềm, lúc đó làm gì có ai nghĩ đến chuyện rèn ra kiếm sắt như hôm nay? Đó là chưa nói đến những thứ như giấy và vải vóc, trước kia con người đều dùng đá khắc chữ, dùng trúc cuốn lại thành sách, dùng da thú làm y phục, còn bây giờ thì sao? Cho nên phải nói, kỹ thuật luôn phát triển không ngừng, có lẽ qua mấy trăm năm nữa, hoặc mấy ngàn năm nữa, chưa biết chừng sẽ thật sự xuất hiện phi cơ có thể bay lên trời như tiểu thư nói, có thể có đại pháo bắn một phát làm nát vụn một gian phòng."
Sở Kiều nghe nói thì vui vẻ nhìn Đa Cát, khen ngợi, "Vẫn là Đa Cát biết nhìn xa."
Đa Cát thường ngày luôn trầm tĩnh như ông cụ non, nhưng hễ đối mặt với Sở Kiều liền xấu hổ đỏ mặt. Cậu gãi đầu, ngây ngô cười nói: "Tiểu thư, có mấy chỗ Đa Cát vẫn chưa rõ lắm."
Sở Kiều hứng thú nhìn cậu, "Nói nghe thử xem."
"Đầu tiên, ta cảm thấy nguyên lý của đại pháo và đạn hỏa tỷ tỷ chế ra lúc còn ở Bắc Yến có chỗ tương đồng, cũng rất giống pháo trúc bán ở chợ. Không biết chúng có liên quan gì không?"
Sở Kiều càng thêm vui mừng, gật đầu xác nhận rồi mỉm cười nói: "Đa Cát thật thông minh, đích thực là có điểm chung, pháo trúc là hỏa lực dạng thô sơ nhất, nguyên lý cũng giống như đạn hỏa. Chỉ có điều, đạn hỏa mượn sức của mảnh băng khi nổ nên mới có uy lực lớn hơn, còn muốn đạt đến trình độ của đại pháo thì cần kỹ thuật chế tác tỉ mỉ cực cao, với kỹ thật rèn sắt hiện giờ của chúng ta thì rất khó làm được."
Bình An và Thanh Thanh rõ ràng nghe không hiểu nhưng cũng gật đầu hùa theo. Đa Cát im lặng suy nghĩ một lát rồi lại ngước lên hỏi: "Tiểu thư kể về những loại vũ khí này, ta vẫn cảm thấy không giống như thuận miệng kể chuyện thần thoại mà thôi, hẳn là có nguyên do gì đó, chỉ là tạm thời vẫn chưa nghĩ ra."
Cậu chau mày, dáng vẻ vô cùng đăm chiêu thực giống một ông cụ non, đột nhiên lại hỏi: "Tiểu thư, hôm qua người bảo chúng ta trở về suy nghĩ nguyên nhân thất bại và thắng lợi của Tưởng nguyên soái và Mao nguyên soái, ta cũng có vài ý kiến, không biết có đúng hay không?"
Sở Kiều khích lệ cậu, "Nói thử ta nghe xem nào."
Đa Cát yên lặng một lúc lâu như đang do dự gì đó, cuối cùng lấy hết dũng khí mới mở miệng nói: "Ta cảm thấy Mao nguyên soái có thể chiến thắng, chủ yếu là vì được dân chúng ủng hộ."
Cậu vừa dứt lời thì Bình An lập tức phản đối, "Không đúng, không đúng. Phải do gã Tưởng nguyên soái kia quá ngu mới đúng, thuộc hạ đều ôm tâm tư riêng, quân đội đông nhưng lại chia năm xẻ bảy, cuối cùng đều phản bội ông ta, bằng không ông ta đã không thua."
Sở Kiều quay sang nhìn Bình An, lẳng lặng hỏi: "Vậy em có nghĩ vì sao thuộc hạ của Tưởng nguyên soái lại phản bội ông ta không?"
"Bởi vì..." Bình An thoáng ngẩn ra, vốn định nói vì Tưởng nguyên soái quá ngu ngốc, nhưng nghĩ kỹ thì lại thấy có gì không đúng, ấp úng một hồi mới nói: "Bởi vì bên phe của Mao nguyên soái đông đúc, bọn họ sợ nên mới làm phản."
"Vậy tại sao bên Mao nguyên soái lại trở nên đông như vậy? Phải biết rằng lúc chiến tranh vừa bắt đầu, quân số giữa hai bên cách biệt rất lớn."
Bình An nhất thời á khẩu, quanh co một hồi vẫn không nói được nguyên do.
Đa Cát ở bên cạnh đỡ lời: "Ta cảm thấy, có vài chuyện Mao nguyên soái đã làm thật sự vô cùng anh minh."
Cậu thành thật phân tích tiếp: "Mao nguyên soái đã sử dụng phương thức tác chiến cực kỳ cao minh. Lúc mới bắt đầu chiến tranh, ông ta liền bỏ thành lớn trở về nông thôn, hơn nữa còn tiến hành cải cách ruộng đất, phân đất cho người dân. Làm như vậy, dân chúng tự nhiên sẽ ủng hộ ông ta, cũng hy vọng ông ta có thể làm hoàng đế, nên sẽ đồng loạt chạy đến đầu quân, dần dần quân đội của ông ta trở nên càng lúc càng đông, còn của Tưởng nguyên soái thì càng ngày càng ít. Cho dù vũ khí lạc hậu nhưng nhờ có nhiều người, qua thời gian dài tất nhiên sẽ chiếm ưu thế. Chưa kể, Mao nguyên soái trị quân nghiêm minh, tuyệt đối không cho phép binh lính làm hại dân chúng, trong quân đoàn kết một lòng, tất cả đồng tâm hiệp lực cho nên mới có sức mạnh lớn như vậy. Còn về phần thuộc hạ của Tưởng nguyên soái, đa phần đều là tham quan, quân kỷ không nghiêm, nội bộ hỗn loạn, cấp dưới không ngừng tranh quyền đoạt thế. Quân đội như vậy, ban đầu có thể có ưu thế nhờ vào trang bị và số lượng, nhưng về sau sớm muộn gì cũng sẽ thất bại."
Đa Cát nói xong, thấy Sở Kiều không nói gì thì nhất thời có hơi lo lắng, tưởng mình nói gì sai nên vội vàng bổ sung: "Ta cũng cảm thấy, hai người bọn họ không phải chỉ đối kháng về mặt quân sự, mà còn là đối đầu về tư tưởng, đại diện cho hai giai cấp, một là quan viên quý tộc, còn lại là bá tính thường dân. Cũng... cũng giống như cuộc chiến giữa Bắc Yến vương và Đại Đồng Hành vậy."
Cậu vừa nói xong thì lập tức nhận ra mình vừa lỡ lời. Mai Hương đang bóc vỏ hạt sen, nghe nói thì vội vàng quay sang ra dấu với cậu. Nhưng Bình An bên cạnh lại không nhận được ám hiệu, còn thuận miệng hỏi tới: "Vậy tại sao bên Ô tiên sinh lại thua?"
Sở Kiều nhìn Đa Cát, hơi ngây người. Nàng vẫn biết Đa Cát thông minh nhưng lại không ngờ cậu lại thông minh đến bậc này. Nàng chỉ chẳng qua kể một chuyện xưa mà cậu lại có thể qua đó nhìn thấu bản chất của chiến tranh.
Sở Kiều kinh ngạc gật đầu, quay sang nói với Đa Cát: "Mặc dù không hoàn toàn chính xác, nhưng em có thể nghĩ đến mấy điểm này đã là rất giỏi rồi."
Nàng như không hề bận tâm đến việc Đa Cát nhắc đến Yến Tuân, ngược lại còn tỉ mỉ giải thích: "Bất đồng chiến thuật hay tư tưởng chiến đấu đều bắt nguồn từ thế cuộc và sức sản xuất của xã hội thời đó. Đại Đồng Hành không thể so sánh với chính quyền của Mao nguyên soái, Đại Đồng không có tầng lớp lãnh đạo kiên định, nội bộ chưa nhất quán thì không thể xác định tư tưởng và đường hướng, lại không nhiều người có tầm nhìn về chiến lực quân sự. Ngoài ra, Bắc Yến không giống như Hoa Hạ*, không kể đến sức sản xuất thấp, Bắc Yến chưa từng trải nghiệm việc bị dị tộc xâm lược, nội bộ chính quyền vẫn chưa tan rã hoàn toàn, thể chế xã hội vẫn còn đó, dân trí chưa được khai sáng, người dân vẫn chưa biết cách mạng là gì, cũng không biết bản thân có thể đứng dậy đối kháng áp bức đè xuống đầu mình, cho nên bọn họ dĩ nhiên sẽ không toàn tâm toàn ý ủng hộ Đại Đồng Hành. Đa Cát nói rất hay, cuộc chiến trong chuyện ta kể, ngoài mặt là sự tranh đấu quyền lãnh đạo giữa hai thế lực, trên thực tế chính là sự đối kháng giữa hai tư tưởng. Dân chúng Bắc Yến, bản thân bọn họ còn chưa hề có ý thức về tự do thì làm sao có thể mượn lực dân chúng đối đầu với Bắc Yến vương? Vì vậy, thất bại là kết cục đã sớm được định trước của Đại Đồng Hành rồi."
*Hoa Hạ là tên cũ chỉ đất nước Trung Quốc
Ba người nghe nói thì liên tục gật đầu, mặc dù Thanh Thanh và Bình An căn bản chẳng hiểu gì cả.
Đa Cát cẩn thận suy ngẫm, tựa như muốn ghi tạc từng lời Sở Kiều nói vào lòng. Một lúc lâu sau, cậu đột nhiên trở nên mất tinh thần, chán nản hỏi Sở Kiều: "Tiểu thư, theo như lời người nói thì, thể chế mà Mao nguyên soái muốn thành lập, căn bản không thích hợp với xã hội hiện tại của chúng ta, có đúng không?"
"Ừ."
"Vậy tự do bình đẳng gì đó đều chỉ như mộng ước phù du mà thôi."
Nhìn thấy dáng vẻ như đưa đám của cậu thiếu niên, Sở Kiều khẽ cười, dịu dàng nói: "Cũng không hẳn, lưu truyền tư tưởng không phải là chuyện một sớm một chiều. Tất cả đều cần một người mở đường, hôm nay em không thể khích lệ toàn bộ người trong thiên hạ cùng em hoàn thành nó, nhưng em vẫn có thể thử ảnh hưởng một nhóm người, truyền bá tư tưởng này ra ngoài. Giống như một mồi lửa dần dần lan ra, lửa lan trên đồng cỏ, một ngày nào đó sẽ khiến cả cánh đồng bốc cháy."
Đa Cát thoáng sững sờ rồi buột miệng hỏi: "Tiểu thư, những lời này của người, có thể viết thành sách không?"
Sở Kiều vỗ vỗ đầu cậu, cười nói: "Trẻ con rất dễ dạy ."
Đa Cát vui vẻ hoan hô một tiếng, cậu rất ít khi có hành động trẻ con như vậy, hết sức kích động nói: "Ta hiểu rồi, chiến tranh chỉ là mồi dẫn, cách mạng cần nền tảng, xã hội muốn tiến bộ thì đầu tiên phải truyền bá tư tưởng trước."
Mai Hương tiến đến đưa cho cậu chén nước ô mai, nhướng mày nói: "Xem em cao hứng chưa kìa, đầu đầy mồ hôi. Trước khi bắt đầu truyền bá tư tưởng thì uống nước ô mai đi đã, không nước hết lạnh thì uổng phí tâm huyết của ta."
Tất cả nghe nói thì đồng loạt cười thành tiếng, khuôn mặt tuấn tú của Đa Cát hơi đỏ lên, ngượng ngùng ngồi xuống.
Trời tối hẳn, Sở Kiều trở về phòng, bọn Bình An chơi đùa thêm một lúc mới trở về đi ngủ.
Đêm khuya có mưa nhẹ, Sở Kiều tựa bên cửa sổ nhìn ra màn mưa lất phất bên ngoài, thấy phòng Đa Cát vẫn còn sáng đèn thì không khỏi mỉm một nụ cười.
Nháy mắt mà một năm rưỡi đã trôi qua.
Ngày đó sau khi rời khỏi Đường Kinh, nàng đi chưa được bao xa đã bị ba đứa nhóc vốn đang ở trong Mật Hà cư đuổi kịp, bất đắc dĩ phải dẫn bọn họ theo cùng.
Bởi vì tay chân đùm đề trẻ con như vậy, Sở Kiều đành từ bỏ mơ ước phiêu bạc tứ phương của mình. Nàng đến phía nam Biện Đường, tìm một thành trì nhỏ yên tĩnh nhưng có phong cảnh xinh đẹp lưu lại. Nơi này khí hậu ấm áp, cuộc sống yên bình, bởi vì gần với hoàng lăng ở Mi Sơn nên trị an rất tốt, ít có cường đạo thổ phỉ.
Hơn nữa nơi này còn là quê hương của lão tiên sinh Nho giáo nổi danh thông thái khắp Biện Đường là Thẩm Mặc Bạch, nên thường xuyên có thư sinh tìm đến bái kiến Thẩm tiên sinh, thuận đường thăm thú cảnh sắc sơn thủy tựa tranh vẽ của tòa thành nhỏ bé này.
Qua một thời gian dài, thành trì này liền được đổi tên thành thành Học Phủ.
Sau khi Sở Kiều dẫn nhóm Mai Hương vào thành liền mua một khách điếm bắt đầu kinh doanh.
Một là để che giấu tai mắt người đời, dù sao thì một nữ nhân mang theo một nha hoàn cùng ba đứa trẻ mà sống thoải mái thật sự có hơi nổi bật. Hai là cũng để có việc làm tìm vui, nếu cả ngày chỉ ăn với ngủ thì quả thực sẽ chán chết.
Mặc dù kiếm tiền không phải là mục đích chính nhưng nhờ phương thức quản lý mới lạ, điều kiện vệ sinh ưu việt và vị trí đắc địa mà khách điếm Học Tử của Sở Kiều dần trở nên nổi tiếng. Phàm là du khách từ bên ngoài vào thành sẽ chọn khách điếm của nàng làm nơi dừng chân đầu tiên, nhất là hai mùa thi xuân thu, luôn chật ních người, làm ăn hết sức phát đạt.
Thời gian trôi qua như bay, có một hôm chải tóc khi vừa tỉnh dậy, Sở Kiều đột nhiên phát hiện thái dương có tóc bạc. Mai Hương càu nhàu nói là vì nàng không ăn ngủ tử tế. Sở Kiều mỉm cười, quay sang nhìn tóc mai bên còn lại, cũng có vài sợi bạc.
Thân xác già yếu là chuyện không ai tránh được, cho dù hiện tại chỉ mới hai mươi mốt, nhưng nhiều năm bôn ba chiến trường và vô số lần phiêu bạc nơi băng thiên tuyết địa đã khiến thân thể trẻ tuổi của Sở Kiều mắc nhiều chứng bệnh. Những vết thương cũ mỗi lần trở trời sẽ đau thấu xương, đầu gối và các khớp ngón tay sẽ như bị vùi trong tuyết, luôn cứng lạnh như băng, tuy cực nhỏ nhưng khóe mắt nàng đã bắt đầu xuất hiện nếp nhăn, tinh thần cũng càng ngày càng xấu, hơi lao lực liền sẽ mệt mỏi muốn ngủ.
Sở Kiều chân chính trở thành một ấm thuốc, toàn thân chỗ nào cũng có vấn đề, gần như tháng nào bệnh cảm sốt cũng đến viếng thăm. Nhiều khi nằm trên giường, cảm nhận bệnh tật hành hạ, nàng thậm chí từng không biết thân thể này có phải của mình hay không, cảm giác toàn thân cứng ngắc như tượng gỗ bị va đập sắp vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ.
Cũng may nhịp độ cuộc sống đã trở nên bình ổn, không còn chiến tranh máu lửa, không còn cảnh chết chóc tàn khốc, không còn mưu đồ ám chiêu khó lường, lòng nàng dần trở nên yên tĩnh tựa như một hồ nước, qua biến động cũng sẽ trở lại trạng thái phẳng lặng.
Hơn một năm này, nàng rất ít khi thăm hỏi thế sự bên ngoài. Nhưng bởi vì bản chất của việc kinh doanh khách điếm, người đến người đi không ngừng, hơn nữa bọn nhỏ thấy hứng thú nên nàng cũng nghe được khá nhiều tin tức.
Ví như hôn sự của Tứ công tử Gia Cát gia và Trưởng công chúa Nạp Lan Hồng Diệp của Hoài Tống. Nghe nói sau khi trở lại Đại Hạ, Gia Cát Nguyệt đã rất sảng khoái đồng ý hôn sự này. Nhưng khi quần thần Đại Hạ đang vỗ tay ăn mừng thì Gia Cát thiếu gia lại móc ra một tờ hôn thiếp, tuyên bố bản thân đã có chính thê ở Thanh Hải, theo tổ huấn thì cho dù Nạp Lan trưởng công chúa vào cửa cũng chỉ có thể làm thiếp, có sinh con cũng chỉ được nâng lên thành thứ phu nhân.
Sứ giả Hoài Tống nghe nói liền tức giận quát mắng mấy câu rồi bỏ về. Sự kiện vốn như tảng đá kích ngàn con sóng dưới bàn tay cao minh của Gia Cát Nguyệt liền trở thành cục sỏi ném vào hồ, thoáng cái đã chìm nghỉm trong gió êm sóng lặng.
Kế đó, là chuyện Thất hoàng tử Triệu Triệt được Gia Cát đại tư mã toàn lực ủng hộ trở về từ biên cương phía Bắc, mang theo năm mươi vạn nô lệ kỵ binh tù binh sau khi bình định phản loạn mở rộng biên giới. Triệu Triệt và Gia Cát nguyệt một xướng một họa, dễ dàng phá hủy vị thế độc tôn của Triệu Dương trên triều.
Cùng lúc đó, Bắc Yến tất nhiên không có ngày lành, Biện Đường đóng cửa thủy lộ Nam Cương ngăn trở thông thương kinh tế giữa Bắc Yến và Hoài Tống, mà Bắc Yến tạm thời lại không có năng lực gây chiến với Biện Đường, Thanh Hải và Đại Hạ hai mặt giáp công đã đủ khiến Bắc Yến khổ nói không hết rồi.
Cũng may Triệu Dương đang bận bịu tranh quyền với Triệu Triệt nên không quá chú trọng binh lực ở Nhạn Minh Quan như trước, suốt hơn một năm cũng chỉ có một lần tổ chức công kích quy mô lớn, thế nhưng cũng chỉ bao quanh Long Ngâm Quan có hai ngày liền thu binh, rõ ràng là chỉ làm cho có lệ.
Thế cục trên đại lục càng lúc càng trở nên khó lường.
Có lẽ Triệu Dương cũng hiểu được, nếu không có uy hiếp từ Bắc Yến, quân đội ở Thanh Hải của Gia Cát Nguyệt sẽ trực tiếp vượt qua Long Ngâm Quan tràn vào hoàng đô Đại Hạ. Khi đó, chỉ dựa vào Tây nam quân của hắn thì không cách gì có thể địch lại hai người Triệu Triệt và Gia Cát Nguyệt.
Vì vậy, nếu nhìn theo hướng khác, hắn và Yến Tuân bất giác lại trở thành đồng minh.
Thế sự đôi khi lại khiến người đời không thể tưởng tượng nổi.
Và chuyện khiến chúng văn nhân thi giả say sưa đàm luận thời gian qua, chính là đại hôn xa hoa của Bắc Yến vương Yến Tuân.
Đầu năm ngoái, hôn lễ của Yến Tuân được cử hành xa hoa ở nội cung Sóc Phương, con gái duy nhất của mười tám vị trọng thần đồng loạt lấy phi vị nhập cung, nhất thời khiến hậu cung trở nên vô cùng náo nhiệt. Tiệc mừng kéo dài suốt mười tám ngày, dân chúng Bắc Yến thi nhau đến trước cung Sóc Phương lễ bái, long trọng nhất từ trước đến giờ, khiến người nhìn mãn nhãn.
Ngày thứ hai của hôn lễ, cung Nạp Đạt trên đỉnh Lạc Nhật rốt cuộc cũng được xây dựng xong, người may mắn đến sớm được chiêm ngưỡng nó đều trầm trồ kêu kỳ quan. Chúng văn nhân thi giả trở về đều đua nhau sáng tác thi văn ca ngợi tòa cung điện lộng lẫy kia.
Nghe nói, cung Nạp Đạt trên núi Lạc Nhật được xây dựng trên sườn núi, một bên là vách đá, mặt còn lại là thác nước nóng tuôn chảy, hoa cỏ lơ lửng trên không trung, suối rượu uốn lượn thơm nồng mười dặm, vách tường bằng đá trắng khảm bạc phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh. Khối kiến trúc rực rỡ như nơi ở của thần, ngay cả cung Kim Ngô có hơn ngàn năm lịch sử của Biện Đường cũng không sánh bằng.
*Cảm hứng từ vườn treo Babylon (một trong 7 kỳ quan thời cổ đại): vườn có 7 bậc thềm, đều là một vườn riêng, từ đó mà có tên gọi theo số nhiều là "những vườn treo". Hơn nữa, cả 7 bậc thềm tạo nên một thể thống nhất. Ở vành ngoài mỗi bậc thềm người ta trồng các loại cây leo bò từ bậc thềm này sang bậc thềm khác và liên kết cả 7 vườn riêng lẻ thành một quần thể duy nhất. Quần thể này nom giống như một quả núi xanh mọc thẳng đứng lên với một khối rậm rì những cây, bụi, hàng rào cây xanh và hoa trông như đang treo hoặc bốc hơi, từ đó mà có tên gọi là "vườn treo".
Toàn bộ người trong thiên hạ đều biết đây là tòa cung điện mà Bắc Yến vương xây dành cho người mình yêu là Tú Lệ tướng quân. Nhưng từ bốn năm trước khi Tú Lệ tướng quân và Bắc Yến vương đoạn tuyệt với nhau trên bình nguyên Hỏa Lôi, tin tức về cô gái xuất thân nô lệ, điểm chung duy nhất giữa Bắc Yến vương, đại tư mã của Đại Hạ và hoàng đế Biện Đường, người phát động chiến tranh tam quốc truyền kỳ đã bặt vô tăm tích, hoàn toàn biến mất khỏi bản đồ chính trị của đại lục Tây Mông.
Có người nói, nàng đã gả cho hoàng thất Biện Đường, đổi tên đổi họ rồi ở lại bên cạnh hoàng đế. Cũng có người nói, nàng chính là vị chính thê mà đại tư mã của Đại Hạ là Gia Cát Nguyệt từng công bố với thiên hạ, hiện giờ đang ở Thanh Hải tiếp tục lãnh đạo binh lính thay cho hắn. Thậm chí có người nói, nàng đã trở lại Bắc Yến, hiện giờ đang ngụ trong hành cung Nạp Đạt tráng lệ kia.
Thế nhưng, tất cả lời đồn đều chỉ là suy đoán suông, không ai biết được, cô gái trong truyền thuyết kia đang ở tại một thành nhỏ phía nam Biện Đường kinh doanh khách điếm, mỗi buổi sớm đều đi tản bộ ven hồ, thỉnh thoảng cùng mấy người già ở đó đánh cờ nói chuyện giết thời gian.
Cuộc sống chợt trở nên vô cùng đơn giản, đa phần nàng không hề nghĩ ngợi gì nhiều, nhưng thỉnh thoảng cũng sẽ nhớ đến rất nhiều năm trước, trong một đình viện rách nát, nàng từng kể cho thiếu niên nghe câu chuyện xa xưa về vị quốc vương xây dựng cho người phụ nữ mình yêu một khu vườn treo. Cung điện có thác nước nóng, có vườn hoa ngũ sắc lơ lửng trên không trung, có suối rượu hương thơm bay mười dặm, tường điện bằng đá trắng khảm bạc phản chiếu ánh sáng. Khu vườn này về sau trở thành di sản thế giới, tượng trưng cho tình yêu vĩnh viễn không thay đổi của quốc vương đối với người vợ yêu của mình.
Nửa đời người trôi qua, có người dừng chân, có người lướt qua, có người quên mất xuất thân của mình, có người mất đi phương hướng, cho dù thỉnh thoảng hồi ức có khơi gợi lại cũng chẳng thể vãn hồi tình cảm đã mất.
Hạt mưa vỗ lên bụi chuối bên cửa sổ, lại là một đêm không ngủ.
Hừng sáng Sở Kiều mới chợp mắt, khi tỉnh lại thì mặt trời đã lên cao. Mai Hương bây giờ đã là chủ quản sự của khách điếm nên luôn bận bịu nhiều chuyện, hôm nay con trai cưới vợ nên Ngô đại nương quét dọn nấu nướng trong viện cũng không có trong sân.
Đẩy cửa sổ ra, trời bên ngoài trong xanh không một gợn mây, trên tán cây dong trong sân có hai chú chim hoàng anh đang líu ríu không ngừng.
Sở Kiều thay một chiếc áo ngắn màu xanh nhạt, phía dưới mặc la quần tím nhạt, tóc búi lỏng, thoạt nhìn vô cùng thoải mái. Nàng đẩy cửa ra ngoài, nhìn thấy Đa Cát đang ngồi trên chiếc bàn đá trong sân viết cái gì đó, Thanh Thanh ngồi bên cạnh phe phẩy quạt, dáng vẻ buồn ngủ đến díp mắt nhưng vẫn cố chịu. Bình An như thường lệ không có nhà, cũng chẳng rõ lại chạy đi đâu chơi rồi.
Năm nay Đa Cát đã mười tám, cao ráo tuấn tú, không giống người Bắc Yến trưởng thành trên thảo nguyên mà giống thư sinh nho nhã ở Giang Nam hơn, ở thời đại này thì vừa vặn đến tuổi cưới vợ sinh con rồi.
Thanh Thanh cũng đã mười lăm, tiểu nha đầu ngây thơ vẫn một mực theo sau mông người ta như một cái đuôi nhỏ.
"Tỷ tỷ!" Nghe tiếng động, Thanh Thanh lập tức mở mắt ra vui vẻ kêu lên.
"Tiểu thư dậy rồi." Đa Cát đứng lên, vội vàng thu hồi giấy tờ trên bàn đá, ngượng ngùng lui về phía sau một bước.
Sở Kiều biết cậu đang làm gì nhưng cũng không nói toạc ra, chỉ đi tới sửa sang vạt áo xộc xệch cho cậu, nhíu mày nói: "Nghiên cứu nâng cao tri thức không phải là chuyện một ngày hai ngày, tối qua mấy giờ mới ngủ mà hôm nay còn dậy sớm như vậy?"
Đa Cát bối rối, cậu thanh niên mười tám tuổi cúi đầu như một đứa trẻ vừa biết sai, ngủ không đủ giấc nên vành mắt cậu đen thui như mắt gấu trúc.
"Phải đấy!" Thanh Thanh ở bên cạnh cũng lập tức lên án: "Ngày nào cũng ngồi đây viết lách, không chịu đi chơi với muội."
"Thanh Thanh, Đa Cát!" Bình Anh vừa chạy vào vừa gọi to, nhìn thấy Sở Kiều liền vui vẻ nói luôn: "Tỷ tỷ, hôm nay là hội hoa sen, bên ngoài náo nhiệt lắm, hoa sen trong hồ Xuân Hà chỉ một đêm đã nở trắng hồ, tỷ không đi xem sao?"
Thanh Thanh nghe nói lập tức sáng mắt lên, nhưng quay lại nhìn thì đụng phải vẻ mặt thản nhiên của Đa Cát, nói rõ cậu không mặn mà chuyện ra ngoài chơi cho lắm.
Sở Kiều nhìn thấy thì mỉm cười nói: "Được, chúng ta đi tham gia náo nhiệt một hôm vậy."
Đa Cát cau mày, "Trên đường nhất định có rất nhiều người, thân thể tiểu thư lại không tốt"
"Đa Cát! Hiếm khi tỷ tỷ muốn ra ngoài giải sầu, chớ có làm người khác mất hứng như vậy chứ." Thanh Thanh đẩy đẩy tay cậu, phụng phịu nói.
Đa Cát bất đắc dĩ nói: "Vậy tiểu thư chờ một chút, ta đi đổi y phục rồi đi cùng mọi người."
Thanh Thanh và Bình An hớn hở vỗ tay, dáng vẻ như hai đứa trẻ còn chưa lớn.
Bốn người nhanh chóng ra khỏi cửa, Đa Cát đã đổi một bộ trường sam xanh nhạt nho nhã, thoạt nhìn vô cùng anh tuấn. Cậu bung dù trúc che cho Sở Kiều khỏi ánh nắng trưa gay gắt, hai người sánh vai đi cùng nhìn như một bức tranh. Thanh Thanh vác theo một chiếc rổ nhỏ đựng trà ướp lạnh và ít bánh ngọt đi sau như một tiểu nha hoàn.
Cô bé hơi chau mày nhìn Đa Cát và Sở Kiều, đột nhiên lớn tiếng nói: "Tỷ tỷ, sau này muội không búi tóc hai bên nữa."
Nhóm người đang bước đi, nghe cô bé nói thì đồng loạt sửng sốt.
"Búi tóc hai bên giống con nít lắm, muội đã mười lăm tuổi rồi, phải ra dáng một tí."
Sở Kiều không khỏi phì cười, biết rõ tâm tư Thanh Thanh nên cũng cười nói: "Ừ nhỉ, Thanh Thanh cũng đã lớn, có thể lấy chồng rồi."
Bình An quay lại *hừ* một tiếng, day ngón tay vào trán muội muội, "Đồ mặt dày không biết xấu hổ."
Hai đứa trẻ nhất thời lại cãi nhau ỏm tỏi, rượt chạy tán loạn.
Hôm nay là hội hoa sen, toàn bộ sen trong hồ Xuân Hà đều nở rộ, trắng muốt cả hồ, mỗi khi có gió thổi lại thơm ngát cả vùng. Hương sen ngọt ngào, mặt nước trong xanh, gió thổi vi vu, cánh hoa phớt hồng, đẹp vô cùng.
Hôm nay tâm tình của Sở Kiều rất tốt, nàng nói muốn thuê thuyền dạo hồ, Thanh Thanh và Bình An dĩ nhiên vui vẻ tán thành, Đa Cát cũng không đành làm Sở Kiều mất hứng. Bốn người lên thuyền, Đa Cát đứng ở đuôi thuyền nhẹ dùng sức đẩy, con thuyền nhỏ từ từ rời bờ, len lỏi qua tán lá sen xanh rì.
Thuyền lướt nước thật êm, Thanh Thanh ngồi ở mũi thuyền thích thú lấy tay vén lá sen ra, lục bình chập chờn hai bên mạn thuyền, tiếng người trò chuyện văng vẳng đâu đó không xa, gió mát phe phẩy qua tóc mai, lên vành tai.
Bình An hăm hở hái đài sen cột thành từng bó lớn, cậu vốn không ăn hạt sen nhưng lại chết sống hái như đang giành giật với người khác. Chỉ một chốc sau trên thuyền đã xanh ngắt toàn đài sen.
Sở Kiều cảm thấy tâm tư rộng mở, nàng hít một hơi thật sâu rồi thở mạnh ra, phổi như được thanh lọc, thân thể cũng nhẹ đi vài phần.
"A! Có cá!" Thanh Thanh đột nhiên kêu to, Bình An vội vàng nhìn sang, một chú cá chép đỏ son quẫy đuôi nhảy lên rồi rơi *tõm* xuống, khiến nước bắn đầy hết lên mặt bọn họ.
Đa Cát nhìn Thanh Thanh và Bình An đùa giỡn ở đầu thuyền thì bất giác cũng cười theo, cậu chậm rãi khua mái chèo, mặt nước phản chiếu bóng dáng cao ráo của cậu, vạt áo bồng bềnh, phong thái tiêu sái, đã ra dáng một công tử văn nhã rồi.
Sở Kiều nhìn ba người, cười dịu dàng.
Cả ba đều đã trưởng thành rồi, chỉ có mình nàng vẫn luôn coi bọn họ như trẻ con thôi.
"Đa Cát, em rời nhà cũng gần hai năm rồi, không muốn hồi hương thăm nhà một chút sao?"
Đa Cát nghe hỏi thì thoáng sững sờ, gượng gạo cười nói: "Chờ một thời gian nữa xem thế nào đã."
Sở Kiều gật đầu, trầm ngâm nói: "Cũng đúng, hiện giờ chiến sự ở biên cảnh phức tạp khó đoán, đích thực là không tiện đi lại."
"Phải." Đa Cát gật đầu nói: "Dù sao thì nội cảnh Bắc Yến cũng không có chiến tranh, cha mẹ ta sống ở dưới chân Hồi Sơn đã mấy chục năm rồi, đến nay vẫn bình an vô sự nên ta cũng yên tâm. Nhưng tiểu thư và bọn Bình An có một thân một mình, ta làm sao có thể yên tâm mà đi được."
Sở Kiều nhất thời sửng sốt, không khỏi cười nói: "Thằng nhóc nhà em không yên tâm cái gì chứ?"
Đa Cát lắc đầu, không nói nguyên nhân mà chỉ lẩm bẩm: "Nói gì thì nói vẫn không yên lòng."
"Ha ha, hái được rồi!" Thanh Thanh đột nhiên cười to, tay cầm đóa hoa sen thật to, đứng bật dậy nói với Sở Kiều: "Tỷ tỷ, đẹp không này?" Vừa nói vừa định chạy về phía nàng.
Sở Kiều cả kinh, vội vàng kêu: "Thanh Thanh, cẩn thận!"
Nàng vừa dứt lời thì con thuyền nhỏ liền lập tức chao đảo.
"Thanh Thanh, mau ngồi xuống!" Bình An hét lên.
Con thuyền chao đảo càng lúc càng dữ dội, Thanh Thanh thất kinh kêu lớn. Con thuyền nghiêng hẳn sang một bên, Đa Cát buông mái chèo trong tay ra, nhào đến kéo lấy Sở Kiều đang sắp rơi vào trong nước lại. *Tõm* một tiếng, Thanh Thanh rốt cuộc rơi xuống nước.
Nước bắn tung tóe, Bình An cũng lập tức nhảy theo, nhanh chóng chụp được Thanh Thanh.
"Bình An, đưa tay đây." Đa Cát giơ tay ra, cùng Bình An đưa Thanh Thanh lên thuyền. Tiểu nha đầu bị dọa đến tái mét, run rẩy nép vào lòng Sở Kiều, cắn môi để không khóc thành tiếng.
"Đần chết đi được!" Bình An mắng.
Thanh Thanh nghe mắng, lập tức mếu miệng khóc lên.
"Bình An, chớ nói thế." Đa Cát khiển trách, "Thanh Thanh còn nhỏ."
Sở Kiều vỗ vỗ lưng Thanh Thanh, cười nói: "Nha đầu ngốc, em không phải biết bơi sao? Khóc cái gì?"
Thanh Thanh nghe nói thì chợt ngây ra, quên cả khóc, lát sau mới bẽn lẽn cười nói: "Muội quên mất."
Bình An không nhịn được la to: "Đúng là đần chết được mà!"
May là đang mùa hè, y phục vải nhẹ mỏng nên ngồi một lúc thì đã khô. Có điều bị một trận như vậy nên bọn họ cũng mất hứng, quyết định lên bờ quay về nhà.
Ai ngờ vừa lên bờ thì một đám năm sáu nam tử mặt mũi lưu manh đột nhiên đi tới, lúc đi ngang qua nhóm người, một gã đột nhiên ăn gan hùm mật gấu đưa tay muốn sờ mặt Sở Kiều.
Với thân thủ như Sở Kiều, sao có thể để gã dễ dàng như ý nguyện, nàng chỉ lắc mình một cái đã khiến gã kia chụp hụt.
"Ối chà?" Gã nam tử nọ mặc trường bào thư sinh màu trắng nhưng giọng điệu lại vô cùng cợt nhả vô lại, gã híp mắt quay sang cười nói với mấy gã còn lại: "Tiểu nương tử này thực trơn mịn!"
Cả bọn nghe nói đều đồng loạt phá lên cười ha hả.
Sở Kiều vừa mới khẽ cau mày thì Thanh Thanh đã đột nhiên tiến lên một bước, tức giận mắng: "Không biết xấu hổ! Các người muốn chết à!"
Gã nọ lúc nãy không chú ý đến Thanh Thanh, bây giờ nhìn thấy cô bé thì càng thêm vui vẻ, cười to nói: "Thêm một nàng tư sắc không tồi, tuy còn hơi non nhưng cũng vòng nào ra vòng đó."
"Tỷ tỷ?" Bình An tức đến đỏ bừng mặt, quay đầu lại nhìn Sở Kiều.
Sở Kiều bất đắc dĩ thở dài, trầm giọng nói: "Cẩn thận một chút, chớ làm lớn chuyện quá."
Bình An hoan hô một tiếng rồi không đợi mấy gã kia kịp phản ứng đã lao đến như một chú cọp con.
Sau hai tiếng *răng rắc* và cảm giác đau đớn ập đến, gã nam tử kia bay vèo sang một bên như một bao cát, ngực vừa bị đập một đòn thật mạnh.
Thanh Thanh thấy ca ca động thủ thì liền ném cái rổ nhỏ trong tay xuống, cũng xông lên. Đằng sau mấy gã nam tử kia có hơn mười hạ nhân theo hộ vệ, thấy chủ tử bị đánh thì cũng hối hả chạy tới. Thanh Thanh chỉ vung chân một cái đã đạp ngã hai gã hộ vệ, cùng lúc đưa tay bắt lấy tay một gã khác, nhanh như chớp xoay người ném gã qua vai mà vẫn nắm chặt tay gã khiến tay gã nọ bị trật khớp, kéo theo một tiếng kêu thảm thiết như heo bị mổ.
Bình An đạp vào eo một gã khác, lấy đà nhảy lên dùng hai chân giữa chặt cằm gã nọ vặn một cái, một giây sau gã đã nằm xụi lơ trên mặt đất.
Người tụ lại xem càng lúc càng đông, Thanh Thanh dù sao cũng là lần đầu tiên chân chính động thủ với người khác, dần dần có hơi yếu thế, nhưng cũng may có Bình An thân thủ không tệ hỗ trợ, đánh đâu thắng đó. Chỉ thoáng sau mặt đất đã nằm gần năm sáu người, mất sạch khả năng chiến đấu.
Cùng lúc đó, có mấy gã chú ý đến Sở Kiều và Đa Cát đang đứng một bên nhìn, lén lút áp sát hai người định kiếm lợi. Nhưng còn chưa kịp làm gì thì trước mắt như có cái bóng xẹt qua....
Vung tay! Chế trụ! Vặn!
Đa Cát vẫn còn đứng yên tại chỗ, một bước cũng không động đậy thì bên tai đã nghe thấy tiếng xương gãy. Gã người hầu kia nằm trên mặt đất, ôm cánh tay bị gãy kêu la thảm thiết không ngừng.
"Hây yaaaaa!" Thanh Thanh hét to một tiếng rồi tung mình lên đá vào ngực một gã đang định tấn công Bình An khiến gã loạng choạng mấy bước rồi gục xuống đất, không bò dậy nổi nữa.
Lúc tên cuối cùng ngã xuống, con đường không lớn đã ngổn ngang mười mấy người nằm, không ai có thể bò dậy được.
Thanh Thanh đắc ý phủi tay, hừ mũi nói: "Đáng đời! Lần này cho các ngươi một bài học, xem về sau còn dám làm chuyện xấu nữa không."
Dân chúng tụ tập hóng chuyện nhất thời đồng loạt hoan hô khen ngợi. Bình An còn đang đắc ý, đảo mắt nhìn thấy Sở Kiều và Đa Cát cùng nhau rời đi thì vội vã kéo Thanh Thanh chạy theo.
Đám đông nhìn theo mấy người bọn họ rời đi, không khỏi e ngại cảm thán.
Dưới gốc liễu cạnh bờ hồ, một công tử khoảng hai mươi sáu hai mươi bảy mặc trường sam trắng tinh, lẳng lặng nhìn theo hướng bọn Sở Kiều vừa đi, thật lâu vẫn không rời đi.
Sau khi về đến nhà, bốn người nhìn thấy Mai Hương đang đứng trước cửa chờ với bộ dạng mong ngóng. Nàng thấy bọn họ liền vội vàng chạy đến, lại bắt đầu càm ràm.
Đa Cát nhanh chóng kể lại chiến tích của bọn họ hôm nay, rốt cuộc khiến mặt Mai Hương thoắt trắng thoắt hồng một trận, thế là lại mắng Bình An và Thanh Thanh là yêu tinh chuyên gây chuyện.
Bữa tối có bốn món ăn một món canh, rau thịt đầy đủ, năm người cùng nhau ngồi ăn. Ngô đại nương không ở trong viện nên Mai Hương có dịp xuống bếp, Sở Kiều bị nàng buộc ăn hết một bát cơm đầy mới được tha.
Đến đêm cả bọn ngồi dưới gốc đa tám chuyện hóng mát, Sở Kiều hôm nay ra ngoài nên hơi mệt, nghe câu được câu không, cũng không tham gia nói chuyện.
Mai Hương vừa thêu thùa vừa nói: "Hôm nay có một chuyện lạ, Hoa bà bà ở phố Đông chạy tới tìm ta, nói muốn làm mai cho con trai duy nhất của Tống tiên sinh trường tư thục ở phía nam thành, bị ta trực tiếp cự tuyệt rồi."
Thanh Thanh nghe vậy thì cười váng lên: "Ha ha ha, cóc mà đòi ăn thịt thiên nga, con trai nhà bọn họ là thứ gì mà cũng dám mơ tưởng đến tỷ tỷ."
Mai Hương ngẩng đầu lên nhìn cô bé, kỳ quái hỏi: "Ta nói bọn họ muốn cưới tiểu thư hồi nào?"
"Hả? Chẳng lẽ nhìn trúng Mai tỷ sao?"
Mai Hương giơ tay vỗ đầu Thanh Thanh một cái, nói: "Nha đầu ngốc, người ta là để ý muội mới cho người đến làm mai."
Mai Hương vừa dứt lời thì mặt Thanh Thanh lập tức đỏ ửng, cô bé vội vàng mắng: "Khốn kiếp! Lần sau gặp mặt gã con của Tống lão đầu, muội sẽ chặt đứt chân hắn!"
"Muội có người đế ý là may rồi, còn ở đó già mồm cái gì." Bình An đang gặm táo, thuận miệng ném ra một câu.
Nhưng Mai Hương lại lắc đầu, nói: "Thật ra thì con trai của Tống tiên sinh không tệ, cũng là người có công danh, còn hết sức văn vẻ lịch sự, nghe nói mùa thu năm nay sẽ tham gia đại khảo rồi. Có điều muốn lấy Thanh Thanh thì không được, Đa Cát năm nay cũng đã mười tám, chờ Thanh Thanh sang năm cập kê thì làm tiệc mừng cho hai đứa được rồi."
Mai Hương vừa dứt lời thì tất cả đồng loạt sửng sốt, Thanh Thanh mặt đỏ như sắp bật máu, đầu cúi gằm, không còn lớn tiếng phản bác như lúc nãy.
Đa Cát thì thoáng nhăn mày, không tự nhiên nói: "Mai tỷ, ai bảo ta và Thanh Thanh muốn thành hôn?"
Mai Hương nhướng mày, nói: "Còn phải hỏi sao? Ai chẳng biết?"
Đa Cát đứng dậy, bình tĩnh nói: "Ta lại không biết." Dứt lời liền xoay người trở về phòng.
Tất cả đều ngẩn người, không biết nói gì mới phải, ngay cả Bình An cũng há to miệng ngây ra.
Thanh Thanh đỏ mắt, đứng bật dậy chạy về phòng mình.
"Ta... ta có nói gì sai sao?" Mai Hương trợn mắt há hốc mồm, cũng vội vàng đứng lên đi đến phòng Thanh Thanh.
"Tỷ tỷ, chuyện gì vậy?"
Sở Kiều quay đầu nhìn sân viện trống trải, không đáp lời.
Gió đêm mang theo hơi ấm, tiếng ve sầu rền vang nghe thật não nề.
Đến khuya chợt có người gõ cửa phòng Sở Kiều, Sở Kiều còn chưa ngủ, khoác áo vào rồi ra mở cửa, đập vào mắt là khuôn mặt đầy nước mắt của Thanh Thanh đang đứng trước cửa.
Nhìn thấy Sở Kiều, tiểu nha đầu đột nhiên nhào vào lòng nàng, thương tâm khóc to.
Sở Kiều kéo nàng vào phòng, vỗ về an ủi mãi nhưng Thanh Thanh vẫn không ngừng khóc, cũng không nói gì. Khoảng một canh giờ sau, cô bé mới dịu lại, tuy vẫn còn thút thít mấy tiếng.
"Được rồi, đừng khóc nữa, Đa Cát chỉ nói đùa một câu thôi."
Thanh Thanh đứng dậy, gạt nước mắt trên mặt, lắc đầu nói: "Không phải đùa đâu."
Sở Kiều dĩ nhiên hiểu, nhưng không đành lòng khiến cô bé buồn nên vẫn an ủi: "Chớ suy nghĩ nhiều."
"Thật ra muội biết." Thanh Thanh cúi đầu, lẩm bẩm: "Đa Cát không thích muội, người trong lòng Đa Cát là tỷ tỷ."
Sở Kiều sửng sốt, cau mày nói: "Em nói bậy gì đó?"
"Muội không nói bậy." Thanh Thanh ngẩng đầu lên, khuôn mặt nhỏ đầy nước mắt nhìn hết sức đáng thương. Cô bé bướng bỉnh nói: "Muội có gặp Đa Cát lén giấu hình tỷ tỷ dưới gối."
Sở Kiều nhíu mày chặt hơn, hồi lâu cũng không nói gì.
"Nhưng muội cũng biết tỷ tỷ không thích Đa Cát, người trong lòng tỷ tỷ chính là người đã đưa ngọc bội cho tỷ tỷ." Tiểu nha đầu nói xong, lau nước mắt rồi chạy ra khỏi phòng.
Trăng ngoài cửa sổ vừa lớn vừa tròn, ánh trăng chiếu qua cửa sổ rọi sáng bừng cả gian phòng. Khối ngọc bội trắng như tuyết trên gối bắt ánh trăng, càng thêm sáng bóng.
Sau một đêm không ngủ, sáng sớm hôm sau đã có người gõ cửa tiểu viện. Một thư đồng áo xanh cung kính cúi chào rồi lễ phép nói: "Xin hỏi chủ nhân có nhà không? Công tử nhà ta có việc cầu kiến."
Chương 171: Trùng phùng giữa đường
Rèm trướng được nhấc lên, ánh nắng sáng rỡ cùng mùi thịt nướng bên ngoài tràn vào, Thanh Thanh nhướng mày trở mình rồi mơ màng mở mắt ra, vẫn chưa tỉnh hẳn. Gió buổi sớm mang theo hương vị tươi mát luồn vào, nhất thời xua tan không khí đượm mùi thuốc trong trướng.
Sở Kiều vẫn không ngẩng đầu lên, một tay đỡ trán, tay còn lại kẹp một con cờ bằng mã não đen đặt xuống bàn cờ bạch ngọc kêu cái *cạch*, âm thanh đơn điệu ẩn chứa chút phiền muộn. Nàng như vẫn đang chìm đắm trong ván cờ chằng chịt đường lối, mỗi nước đều chần chừ rất lâu mới hạ cờ.
"Tiểu thư, tất cả mọi người đã chuẩn bị xong." Đa Cát đứng ngoài cửa, thấp giọng báo.
Mi tâm Sở Kiều chau lại thành hình chữ xuyên (川), tiếng Đa Cát văng vẳng trong lều nhưng nàng vẫn chậm chạp không có phản ứng. Trong lúc Đa Cát còn đang cho rằng nàng không nghe định lặp lại một lần nữa thì nàng lại đột nhiên đẩy bàn cờ sang một bên, quay đầu lại trầm giọng nói: "Nói với mọi người chuẩn bị sẵn sàng, bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ lên đường cả ngày lẫn đêm."
Hôm qua bọn họ đã rời khỏi thành Học Phủ, bây giờ đang trên đường đến Đường Kinh.
Nửa tháng trước, con trai độc nhất của đại Nho gia Thẩm Mặc Bạch là Thẩm Tuấn đột nhiên viếng thăm, điểm danh nói muốn gặp Sở Hồi.
Sở Lâm là tên Đa Cát dùng khi đi lại trên phía Đông đại lục, tên chữ là Sở Hồi, Hồi trong Hồi Sơn. Thẩm Tuấn muốn gặp Đa Cát cũng chẳng phải là chuyện to tát gì, dù sao thì một năm nay sự thông thái của Đa Cát đã sớm lan xa khắp thành Học Phủ, nhưng chuyện phát sinh sau đó mới khiến Sở Kiều trở nên cảnh giác.
Theo lời Đa Cát thì Thẩm Tuấn vô cùng coi trọng cuốn 'Đạo Tế Thế' mà cậu đang biên soạn gần đây, thậm chí vừa đọc xong liền viết thư cho phụ thân ngay trong đêm, khiến Thẩm Mặc Bạch lúc ấy đang nhậm chức ở Mi Sơn lập tức quay trở về thành Học Phủ, còn kiên quyết lưu Đa Cát ở lại trong phủ liên tiếp ba ngày, ý ẩn trong lời như muốn chiêu nạp cậu.
Mọi chuyện vốn cũng chẳng có gì đáng nói, một học giả yêu thích hậu bối tài hoa muốn nâng đỡ là chuyện thường thấy. Nhưng nửa tháng sau, khi Thẩm Mặc Bạch đột ngột dẫn Đa Cát yết kiến một người thì Sở Kiều mới cảm nhận được nguy cơ.
Người nọ tuổi còn trẻ, khí độ ung dung, thân phận thần bí, ngay cả đại học giả như Thẩm Mặc Bạch cũng phải hết sức cung kính hữu lễ. Ngoài ra, theo hình dáng mà Đa Cát mô tả lại, Sở Kiều mơ hồ nhớ đến một người nàng chỉ gặp qua một lần. Hồi tưởng lại những lời đồn đại nghe được gần đây, Sở Kiều càng có linh cảm bất an khác thường. Ba ngày sau, nàng quyết định trở về phương Bắc, tìm gặp Lý Sách một lần để chứng thực lo lắng trong lòng.
Đoàn người đi hai ngày thì đến được Tú Lĩnh, đường núi uốn lượn, một bên là bờ suối cỏ non mọc dày, một bên là rừng thông bạt ngàn, nếu không phải đang mang tâm trạng thấp thỏm thì nơi này đúng là một nơi an dưỡng tốt.
Nhưng đến đêm ngày thứ ba thì hành trình của bọn Sở Kiều lại bị gián đoạn bởi một trận mưa lớn.
Đường núi trắc trở, mặt đất bị nước biến thành bùn nhão càng thêm khó đi. Đoàn người khó khăn lắm mới đến được bờ sông thì lại phát hiện mưa lũ đã cuốn trôi chiếc cầu dây duy nhất nối hai bờ sông. Trước mặt còn có một đội ngũ cũng muốn qua sông đang gấp rút sửa cầu, nhưng nhân số chỉ có hơn ba mươi người nên tiến độ vô cùng chậm chạp.
Trước mắt chỉ có hai con đường, một là quay lại đi đường vòng xuyên qua Hoài Tống để đến Biện Đường, nhưng như vậy sẽ khiến lộ trình kéo dài thêm mười ngày so với dự kiến. Hai là chờ cầu sửa xong rồi qua sông.
Sở Kiều cho nhóm hộ vệ thuê để đánh xe mỗi người thêm mười lượng bạc, khiến bọn họ lập tức hăng hái gia nhập đội ngũ đang sửa chữa cầu kia.
Một chốc sau, Đa Cát đến cạnh xe ngựa của nàng báo: "Tiểu thư, đối phương phái người đến cảm ơn chúng ta."
Sở Kiều thấy đối phương cũng không có ý bắt chuyện dông dài thì cũng thấy thoải mái, nhẹ gật đầu nói: "Em quay lại nói với bọn họ, là người đi cùng một đường, đều muốn qua sông cả, không cần cảm ơn."
Trời nhanh chóng sập tối, phía chân trời văng vẳng tiếng sấm, không khí oi bức dị thường. Sở Kiều nhẹ vén rèm cửa xe ngựa lên, nhìn thấy bầu trời phía tây đen kịt, e không lâu nữa sẽ lại có một trận mưa to.
Mai Hương chỉ huy hạ nhân nấu cháo thịt, Sở Kiều thấy đội ngũ bên kia đều tập trung sửa cầu, chỉ có cỗ xe ngựa được buộc dưới gốc thông già là không hề có động tĩnh. Cỗ xe được bao phủ trong ánh sáng đỏ au của hoàng hôn, gió nhẹ thổi khiến rèm xe thi thoảng bị lật lên, để lộ mũi giày gấm trắng thêu chỉ vàng, loại giày mà chỉ có người đại phú đại quý mới có thể sử dụng.
Mai Hương kêu gọi nhóm hộ vệ nhà mình về ăn cháo. Sở Kiều cũng dặn nàng đưa phần cháo còn dư cho người phía đối diện. Không ngờ sau lúc trở lại, Mai Hương còn cầm theo một bao giấy dầu lớn, mở ra thì thấy bên trong là điểm tâm và bánh bơ thượng hạng các loại, ngoài ra còn có hai tảng thịt bò khô thật to.
"Thật đúng là người biết báo ơn." Mai Hương cười tít mắt nhón lấy một khối bánh lên mũi hít hà, nói: "Mùi giống bánh ngàn lớp của Ngư Phúc Ký ở Bạch Thủy Quan. Tiểu thư, người nhìn thử xem, xem có giống loại bánh chúng ta nhập về từ Bạch Thủy không?"
Sở Kiều nhướng mày nhận lấy, nhìn qua một chút rồi lẳng lặng nói: "Không giống, bánh chúng ta thường nhập không xốp giòn như vậy. Loại bánh cao cấp này không chịu được vận chuyển đường xa, có lẽ đối phương cũng chỉ tiện đường mua ăn thôi."
Mai Hương nghe nói thì chặc lưỡi, mấy năm nay cơm áo không lo nhưng dù sao cũng vốn xuất thuân nghèo khổ, nàng lẩm bẩm cảm thán: "Điểm tâm mắc như vậy mà cũng đưa tặng chúng ta, đúng là nhà giàu xài sang mà."
Thanh Thanh bị cảm nhẹ mấy ngày nay nên luôn ngủ vùi, ngửi được mùi thơm liền mở mắt ra, chưa nhìn rõ là gì đã kêu Mai Hương: "Mai tỷ, muội muốn ăn."
"Nhóm người này lai lịch không rõ, vẫn nên cẩn thận phòng bị thì hơn. Mai Hương, tìm chỗ kín đáo ném mấy thứ này đi, chớ ăn."
Mai Hương thoáng sững sờ, nhưng ngay sau đó lập tức gật đầu, "Tiểu thư nói rất đúng."
Sấm chớp đì đùng, gió giật dữ dội nhưng trời sập tối thì lại dịu đi. Khi trời hoàn toàn tối hẳn thì cầu gỗ đã được tu bổ xong.
Nhóm người kia dường như đang gấp lên đường, một người đi qua chào hỏi với Đa Cát một tiếng rồi rời đi trước.
Sở Kiều cũng không muốn kéo dài thời gian nữa, sau khi nhóm người kia qua sông thì liền lập tức dẫn người qua sông.
Lúc đi ngang gốc thông, bọn họ vô tình nhìn thấy bát sứ đựng cháo thịt Mai Hương đưa sang khi nãy bị đặt lẫn trong lùm cỏ, cháo bên trong vẫn còn nguyên, thu hút không ít chuột vui sướng chạy đến ăn.
Sở Kiều thả rèm cửa sổ xuống, lẳng lặng tựa vào đệm lưng, mi tâm chậm rãi nhíu lại.
Qua nửa đêm thì đoàn người cuối cùng cũng ra khỏi dãy núi, tiến vào thảo nguyên bằng phẳng. Người dẫn đường nói nơi này thuộc tỉnh Du Du, qua khỏi đây là núi Tịch Chiếu, sau ngọn núi này chính là thành Thu Phong phồn hoa nhất khu vực tây nam của Biện Đường. Phía Đông thành Thu Phong là Đường Kinh, hướng Bắc là Bạch Thủy Quan, qua khỏi Bạch Thủy Quan chính là lãnh thổ Đại Hạ.
Mấy ngày liền phải bôn ba đường núi, bây giờ thấy được bình nguyên bằng phẳng, mọi người ai cũng phấn chấn hẳn lên.
Bình nguyên trống trải bát ngát, nhìn thấy gốc cây ở xa xa, thoạt nhìn không xa lắm nhưng muốn đến nơi thì phải cưỡi ngựa chạy mất cả ngày. Đoàn người băng qua bình nguyên hết hai ngày, cuối cùng mới đặt chân đến dãy Tịch Chiếu.
Dãy núi này không những có cái tên cực đẹp (Tịch Chiếu có nghĩa là nắng hoàng hôn) mà còn sở hữu cảnh sắc tuyệt vời. Dãy núi bao gồm vài ngọn núi trùng điệp đứng đối xứng, được rừng thông xanh biếc và muôn vàn loài hoa điểm xuyết, từ trên ngọn núi cao nhất còn có một thác nước đổ trắng xóa, nhìn từ xa như một dải lụa trắng, hơi nước bốc lên tạo thành cầu vồng, tựa như tiên cảnh.
Do gần với thành Thu Phong nên đường núi nơi này được khai phá cực kỳ rộng rãi, hai chiếc xe ngựa chạy song song vẫn thoải mái.
Mặt trời ngả về tây, ráng chiều rực rỡ nhuộm đỏ không gian, khiến rừng thông cũng ửng hồng, sắc hoa càng thêm tươi thắm, vượn hót chim kêu, cảnh đẹp không bút mực nào tả xiết, quả nhiên không hổ danh hai chữ 'Tịch Chiếu.'
Tối hôm đó, Sở Kiều hạ lệnh tạm dừng chân tại một sơn cốc. Chúng hạ nhân nghe lệnh thì đồng loạt hoan hô, bọn họ đi đường liên tục mấy ngày không nghỉ, ai cũng đã mệt nhoài từ lâu.
Nhưng còn chưa kịp ngủ thì tai lại nghe được tiếng sói tru truyền đến từ xa, tiếng tru kéo dài khiến người nghe sởn gai ốc.
Thanh Thanh mặt tái mét, núp trong lều, nhắm tịt mắt nép vào lòng Mai Hương, cố thế nào cũng không ngủ được.
Sở Kiều cũng không khỏi có hơi lo lắng, sói hoang ở vùng tây nam hung ác có tiếng, bọn họ hiện giờ ít người, đa phần đều là hộ vệ tầm thường và phu xe thuê về, trong đội ngũ lại có phụ nữ trẻ con, nếu bị sói tấn công, hậu quả sẽ rất thê thảm. Nàng gọi Đa Cát và Bình An đến dặn dò mấy câu, bảo tất cả phải chuẩn bị sẵn sàng thì mới yên tâm chút ít.
Nhưng vừa qua nửa đêm thì tiếng sói tru càng lúc càng nhiều, xen lẫn là tiếng nam nhân quát tháo.
Sở Kiều ra khỏi lều, khoác thêm áo rồi dặn Bình An trông chừng khu lều, sau đó mang theo Đa Cát và mười hộ vệ đi đến hướng phát ra âm thanh.
Nhóm người mới băng qua một sườn núi thì mùi máu tươi tanh nồng đã xộc vào mũi. Nhìn kỹ là một sơn cốc trũng thấp, đàn sói hoang có trên trăm con đang tập trung tấn công một đội nhân mã. Đội người không đông nhưng ai cũng có thân thủ mạnh mẽ, chém giết hết sức hung hãn, nhìn qua liền biết không phải dạng dễ trêu chọc. Bầy sói càng tấn công càng say máu, nhe răng nanh trắng ởn, ỷ vào số đông nên cũng không hề sợ hãi.
Không gian đầy mùi máu tanh nồng và tiếng kêu thét thảm thiết, thật khiến người nhìn lạnh sống lưng.
"Tiểu thư?" Đa Cát cau mày, trầm giọng nói: "Đàn sói quá đông, nếu bọn người này không địch lại thì chúng ta cũng sẽ không thể thoát thân."
Sở Kiều gật đầu, nói: "Tất cả chuẩn bị."
Đám phu xe hộ vệ làm thuê này cũng là người giang hồ hằng năm bôn ba bên ngoài, tuy không sánh được với quân đội chính quy nhưng gan cũng không nhỏ. Bọn họ giương cung lên, Đa Cát âm trầm ra lệnh: "Bắn!"
Hỏa tiễn liên tiếp được bắn ra, đàn sói bị tập kích từ sau lưng, thoáng cái đã có mười con ngã xuống. Đàn sói giận dữ quay lại lao về phía bọn Sở Kiều, tốc độ cực nhanh, mấy bước đã phóng đến trước mặt bọn họ.
Đa Cát nhanh tay lẹ mắt nhấc thùng dầu thông lên hắt về phía trước rồi ném đuốc xuống, một con đường lửa cao gần ba trượng bốc lên. Vài con sói không kịp dừng lại lao thẳng vào ngọn lửa, gào rú thảm thiết.
Sói vốn sợ lửa nên thế công nhất thời trở nên hỗn loạn, đội người kia thấy có tương trợ thì thêm khí thế, mấy người đứng đầu hét to một tiếng, cầm đao xông lên chém giết.
Sói hoang ở khu vực tây nam quả nhiên hung hãn như lời đồn, vẫn cố ác chiến thêm hơn một canh giờ nữa mới hoảng hốt bỏ chạy, trước khi đi còn rống lên mấy tiếng thị uy, tỏ vẻ sẽ trở lại báo thù.
Mặt đất đầy xác sói, tanh hôi đến khinh khủng.
Dưới sơn cốc có người cao giọng hô: "Vị bằng hữu vừa ra tay tương trợ trên kia, chủ nhân nhà ta xin đa tạ chư vị đã ra tay nghĩa hiệp!"
Đa Cát nghe tiếng


![[BHTT - Edit] Hoàng Hậu Ở Hiện Đại - Thập Điểm Hoa Khai](https://img.wattpad.com/cover/172109332-256-k472686.jpg)
![[ngoại truyện]nguỵ trang học tra](https://img.wattpad.com/cover/356515401-256-k360497.jpg)
![[LingOrm] Chưa kịp ly hôn đã kết hôn](https://img.wattpad.com/cover/399954151-256-k190473.jpg)
![[Hoàn] Những mẩu truyện về butt x nak](https://img.wattpad.com/cover/168552138-256-k119101.jpg)

![[LingOrm] [GinJay] Phụ nữ là độc dược](https://img.wattpad.com/cover/406221998-256-k637851.jpg)